BIẾN CHỨNG HẬU PHẪU VÀ PHÙ BẠCH HUYẾT CHI DƯỚI SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN TRONG UNG THƯ DƯƠNG VẬT

Trần Đoàn Thiên Quốc1,2, Mai Bá Tiến Dũng1,2, Nguyễn Công Minh1,2
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: (1) Mô tả và phân tầng biến chứng hậu phẫu theo Clavien-Dindo, phân biệt lymphocele cận lâm sàng với lymphocele có triệu chứng; (2) Đánh giá phù bạch huyết chi dưới tại 3 tháng và 12 tháng sau mổ; (3) Phân tích mối liên quan giữa phù bạch huyết và pN.


Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca trên 38 bệnh nhân ung thư dương vật được VEIL hai bên tại Bệnh viện Bình Dân. Biến chứng phân loại theo Clavien-Dindo; lymphocele phân tầng thành thể cận lâm sàng (siêu âm hệ thống, không triệu chứng) và thể có triệu chứng (cần can thiệp y tế). Phù bạch huyết đánh giá tại 3 tháng và 12 tháng sau mổ; mối liên quan với pN phân tích bằng kiểm định Fisher’s exact.


Kết quả: Toàn bộ 38 ca VEIL đã được thực hiện. Thời gian phẫu thuật trung bình 158,1 ± 25,6 phút; lượng máu mất ước tính 82,5 ± 34,1 mL. Tĩnh mạch hiển lớn được bảo tồn 100% ở cả hai bên. Tổng tỷ lệ phát hiện lymphocele qua siêu âm hệ thống là 92,1% (35/38 bệnh nhân), trong đó lymphocele cận lâm sàng chiếm 71,1% (27/38 bệnh nhân) và lymphocele có triệu chứng là 21,1% (8/38 bệnh nhân). Nhiễm trùng vết mổ 5,2%; không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Phân loại Clavien-Dindo: grade 0: 7,9%; grade I: 71,1%; grade II: 18,4%; grade IIIa: 2,6%. Phù bạch huyết tự than phiền ghi nhận ở 10,5% bệnh nhân tại thời điểm 12 tháng; tỷ lệ này cao hơn có ý nghĩa ở nhóm pN dương tính so với pN0 (37,5% so với 3,3%, p = 0,035).


Kết luận: VEIL là phẫu thuật an toàn với tỷ lệ biến chứng nặng rất thấp (grade ≥ III: 2,6%), không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Tỷ lệ lymphocele có triệu chứng (21,1%) phù hợp với y văn quốc tế (15-40%). Phù bạch huyết được kiểm soát tốt ở mức 10,5% nhờ nỗ lực bảo tồn tĩnh mạch hiển lớn và có mối liên quan rõ rệt với tình trạng di căn hạch (pN dương tính).

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Brouwer O.R, Tagawa S.T, Albersen M et al. EAU-ASCO guidelines on penile cancer. European Association of Urology, 2026. https://uroweb.org/guidelines/penile-cancer
[2] Gunia S, Koch S, May M et al. Robotic-assisted video-endoscopic inguinal lymphadenectomy (RAVEIL) and video-endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL) versus open inguinal lymph-node dissection (OILND) in carcinoma of penis: a systematic review and meta-analysis. Urol Oncol, 2022, 40 (3): 109.e1-109.e10. doi: 10.1016/j.urolonc.2021.11.010.
[3] Lohia N, Nazeer T, Chava S et al. Long-term oncological and surgical outcomes after video endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL) in patients with penile cancer. Int Braz J Urol, 2023, 49 (5): 580-589. doi: 10.1590/S1677-5538.IBJU.2023.0065.
[4] Tan Y.G, Zhu Y, Aziz N.A et al. Comparing the perioperative and oncological outcomes of open versus minimally invasive inguinal lymphadenectomy in penile cancer: a systematic review and meta-analysis. Cancers (Basel), 2025, 17 (18): 3035. doi: 10.3390/cancers17183035.
[5] Suartz C.V et al. Comparing open and video endoscopic lymphadenectomy for penile cancer: a systematic review and meta-analysis of prospective studies. BJU International, 2025, 135 (4): 567-576. doi: 10.1111/bju.16661
[6] Greco I, Fernandez-Pello S et al. Systematic review and meta-analysis of minimally invasive procedures for surgical inguinal nodal staging in penile carcinoma. Eur Urol Focus, 2024, 10 (4): 567-580. doi: 10.1016/j.euf.2023.11.010.
[7] Muller S, Nitschke K, Nuber A et al. A single-center comparison of initial experiences in treating penile and urethral cancer with video-endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL). Front Surg, 2022, 9: 870857. doi: 10.3389/fsurg.2022.870857