MỐI LIÊN QUAN GIỮA SARCOPENIA VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM LÃO KHOA TOÀN DIỆN Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ sarcopenia ở người cao tuổi theo AWGS (2019) và mối liên quan giữa sarcopenia với các đặc điểm lão khoa toàn diện.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 323 đối tượng từ 60 tuổi trở lên, đến khám và điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 9/2023 đến tháng 8/2024. Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu được đánh giá tình trạng lão khoa gồm dinh dưỡng theo MNA-SF, chức năng hoạt động hàng ngày có sử dụng dụng cụ IADL và không sử dụng dụng cụ ADL, mức độ hoạt động thể lực (IPAQ-SF), hỏi tiền sử ngã, nguy cơ ngã theo tháng điểm 21-item fall risk index, hội chứng dễ bị tổn thương, trầm cảm (GDS-15), chỉ số bệnh đồng mắc Charlson.
Kết quả: Tỷ lệ sarcopenia theo tiêu chuẩn vàng AWGS (2019) ở nhóm đối tượng người cao tuổi là 37,8%. Tình trạng suy dinh dưỡng, nguy cơ suy dinh dưỡng, ADL phụ thuộc, IADL phụ thuộc, IPAQ-SF thấp, nguy cơ ngã cao, có hội chứng dễ bị tổn thương, trầm cảm, tổng điểm Charlson nguy cơ cao có liên quan tới nguy cơ mắc sarcopenia. Khi xét mối liên quan hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố tuổi 70-79, sống một mình, thừa cân béo phì, ADL phụ thuộc là các yếu tố liên quan độc lập với sarcopenia.
Kết luận: Sarcopenia có mối liên quan chặt chẽ với nhiều đặc điểm lão khoa toàn diện, đặc biệt là tình trạng dinh dưỡng, chức năng hoạt động hàng ngày, mức độ hoạt động thể lực, nguy cơ ngã, hội chứng dễ bị tổn thương, trầm cảm và bệnh đồng mắc. Cần tích hợp sàng lọc sarcopenia vào khám lão khoa thường quy để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Sarcopenia, đặc điểm lão khoa toàn diện, người cao tuổi.
Tài liệu tham khảo
[2] Chen L.K, Woo J et al. Asian working group for sarcopenia: 2019 consensus update on sarcopenia diagnosis and treatment. Journal of the American Medical Directors Association, 2020, 21(3): 300307.10.1016/j.jamda.2019.12.006.
[3] Cruz-Jentoft A.J, Bahat G, Bauer J et al. Sarcopenia: revised European consensus on definition and diagnosis. Age and ageing, 2019, 48 (1): 16-31. 10.1093/ageing/afy169.
[4] Gao Q, Hu K et al. Associated factors of sarcopenia in community-dwelling older adults: A systematic review and meta-analysis. Nutrients, 2021, 13(12): 4291.10.3390/nu13124291.
[5] Peng Y, Zhang L et al. Comparison of six screening methods for sarcopenia among rural community-dwelling older adults: a diagnostic accuracy study. Eur Geriatr Med, 2024, 15 (3): 681-688. 10.1007/s41999-024-00820-5.
[6] Đỗ Thị Thoa. Sàng lọc sarcopenia ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 cao tuổi bằng bộ công cụ SARC-F và SARC-CALF. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2022.
[7] Li M, Kong Y et al. Accuracy and prognostic ability of the SARC-F questionnaire and Ishii’s score in the screening of sarcopenia in geriatric inpatients. Brazilian Journal of Medical and Biological Research, 2019, 52 (9): e8204. 10.1590/1414-
431X20198204.
[8] Võ Phúc Bảo Ngọc, Phan Nguyễn Bảo Trân, Lê Thị Kim Chi, Nguyễn Phú Vinh. Tỷ lệ thiếu cơ (sarcopenia) và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi đến khám tại Phòng khám Lão khoa, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 543 (2): 259-264. https://doi.org/10.51298/vmj.v543i2.11448.
[9] Đặng Xuân Đại, Nguyễn Xuân Thanh và cộng sự. Đánh giá trầm cảm trên người bệnh sarcopenia cao tuổi tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2022, 17 (số đặc biệt Hội nghị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn Quân y Việt - Lào lần thứ VII năm 2022): 177-184.
https://doi.org/10.52389/ydls.v17iDB.1428.