ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI NẠO HẠCH BẸN TRONG UNG THƯ DƯƠNG VẬT: KINH NGHIỆM TỪ BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Trần Đoàn Thiên Quốc1,2, Mai Bá Tiến Dũng1,2, Nguyễn Công Minh1,2
1 Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm bệnh học và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi nạo hạch bẹn (VEIL) trong điều trị ung thư dương vật tại Bệnh viện Bình Dân.


Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả loạt ca, thực hiện từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2025 tại Bệnh viện Bình Dân, gồm 38 bệnh nhân ung thư dương vật được phẫu thuật VEIL hai bên. Các biến số gồm đặc điểm bệnh học, kết quả phẫu thuật, biến chứng (phân loại Clavien-Dindo) và kết quả ung thư học.


Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,6 ± 10,9 (32-73 tuổi). Đa số bệnh nhân ở giai đoạn pT3 (60,5%) và cN2 (71,1%); phân độ mô học G1 chiếm đa số (60,5%). Toàn bộ 38 ca (100%) hoàn thành VEIL hai bên thành công, không chuyển mổ mở. Thời gian phẫu thuật tổng trung bình 189,5 ± 23,2 phút (120-240 phút). Tĩnh mạch hiển lớn bảo tồn ở 97,4% mỗi bên. Số hạch lấy được trung bình 16,0 ± 2,3 hạch (13-23 hạch)/bệnh nhân. Phân giai đoạn hạch sau mổ: pN0 = 78,9%; pN1 = 13,2%; pN2 = 7,9%; xâm lấn vỏ hạch ghi nhận 1 trường hợp (2,6%). Tỷ lệ tụ dịch bạch huyết 21,1%. Nhiễm trùng vết mổ 5,3%. Không ghi nhận hoại tử da hay huyết khối tĩnh mạch sâu. Thời gian nằm viện trung bình 5,6 ± 2,3 ngày. Tỷ lệ tái phát 13,2%; gồm thời gian sống không bệnh trung bình 26,2 ± 13,0 tháng.


Kết luận: VEIL là kỹ thuật nạo hạch bẹn khả thi, an toàn và có hiệu quả ung thư học phù hợp trong điều trị ung thư dương vật, với tỷ lệ biến chứng nặng thấp và đảm bảo tiêu chuẩn số hạch lấy được.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Zhu W, Chen W, Zou D et al. Global pattern and trends in penile cancer incidence: population-based study. JMIR Public Health Surveill, 2022, 8 (7): e34874. doi: 10.2196/34874.
[2] Brouwer O.R, Tagawa S.T, Albersen M et al. EAU-ASCO guidelines on penile cancer. European Association of Urology, 2026. https://uroweb.org/guidelines/penile-cancer
[3] Eskenazi F, Medina L.G, Soto Suarez R et al. Optimizing inguinal lymph node dissection for penile cancer: a pathway to improve outcomes and complications - a narrative review. Complications, 2025, 2 (3). doi: 10.3390/complications2030020
[4] Brouwer O.R, Clavell-Hernandez J, Huo J et al. Systematic review and individual patient data meta-analysis of studies comparing conventional and videoendoscopic inguinal lymph node dissection in penile cancer. Eur Urol Oncol, 2023, 6 (2): 168-177. doi: 10.1111/bju.16661
[5] Suartz C.V et al. Comparing open and video endoscopic lymphadenectomy for penile cancer: a systematic review and meta-analysis of prospective studies. BJU International, 2025, 135 (4): 567-576. doi: 10.1111/bju.16661
[6] Aydin A.M, Biben E, Yu A, Chakiryan N.H, Mehrazin R, Spiess P.E. Minimally invasive management of inguinal lymph nodes in penile cancer: recent progress and remaining challenges. Cancers (Basel), 2024, 16 (17): 2935. doi: 10.3390/cancers16172935.
[7] Lohia N, Nazeer T, Chava S et al. Long-term oncological and surgical outcomes after video endoscopic inguinal lymphadenectomy (VEIL) in patients with penile cancer. Int Braz J Urol, 2023, 49 (5): 580-589. doi: 10.1590/S1677-5538.IBJU.2023.0065.
[8] Brassetti A, Anceschi U, Cozzi G et al. Combined reporting of surgical quality and cancer control after surgical treatment for penile tumors with inguinal lymph node dissection: the tetrafecta achievement. Curr Oncol, 2023, 30 (2): 1882-1892. doi: 10.3390/curroncol30020146.