XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG CONG HỌC TẬP CỦA TIẾP CẬN ĐƯỜNG VÀO ĐỘNG MẠCH QUAY TRONG CHỤP MẠCH VÀNH QUA DA
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định số lượng thủ thuật cần thiết để đạt thành thạo kỹ thuật làm đường vào động mạch quay đối với thủ thuật viên chưa có kinh nghiệm.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 140 bệnh nhân được làm đường vào động mạch quay để chụp mạch vành qua da bởi một thủ thuật viên chưa có kinh nghiệm trước đó. Đường cong học tập được phân tích bằng phương pháp CUSUM cho biến số thất bại và thời gian thực hiện thủ thuật.
Kết quả: Tỷ lệ thành công của thủ thuật là 92,1%. Tỷ lệ thành công trong lần đâm kim đầu tiên đạt 82,1% và tỷ lệ biến chứng tại chỗ thấp (7,9%). Phân tích CUSUM cho thấy thủ thuật viên đạt mức tỷ lệ thất bại chấp nhận được sau 101 ca, và đạt sự ổn định về thời gian thao tác sau 103 ca.
Kết luận: Thủ thuật viên chưa có kinh nghiệm cần khoảng 103 thủ thuật để đạt thành thạo hoàn chỉnh kỹ thuật làm đường vào động mạch quay.
Chi tiết bài viết
Từ khóa
Động mạch quay, đường vào mạch máu, đường cong học tập, CUSUM, chụp mạch vành qua da.
Tài liệu tham khảo
[2] Ball W.T, Sharieff W et al. Characterization of operator learning curve for transradial coronary interventions. Circ Cardiovasc Interv, 2011, 4 (4): 336-41. doi: 10.1161/circinterventions.110.960864
[3] Hess C.N, Peterson E.D et al. The learning curve for transradial percutaneous coronary intervention among operators in the United States: a study from the National Cardiovascular Data Registry. Circulation, 2014, 129 (22): 2277-86. doi: 10.1161/circulationaha.113.006356.
[4] Nguyễn Khắc Linh và cộng sự. Kết quả sử dụng đường vào đoạn xa động mạch quay trong chụp và can thiệp động mạch vành. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 2022, số 100: 60-66. doi: 10.58354/jvc.100.2022.82
[5] Phạm Mạnh Hùng. Nghiên cứu tính khả thi và hiệu quả của can thiệp động mạch vành thì đầu qua đường động mạch quay ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 2010, số 52: 45-53.
[6] Phan Thanh Toàn và cộng sự. Khảo sát biến chứng mạch máu tại chỗ của bệnh nhân sau can thiệp mạch vành qua đường động mạch quay được băng ép 6 giờ so với 24 giờ. Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 2019, 23 (2): 196-201.
[7] Susanu S, Angelillis M et al. Radial access for percutaneous coronary procedure: relationship between operator expertise and complications. Clin Exp Emerg, 2018, 5 (2): 95-9. doi: 10.15441/ceem.17.210
[8] Shi L, Ju Y et al. The efficacy of ultrasonography on learning curve and inter-subject performance variability in radial artery cannulation in standardized training for residents: a randomized controlled trial. Med Ultrason, 2023, 25 (2): 139-44. doi: 10.11152/mu-3922
[9] Jayanti S, Juergens C et al. The learning curves for transradial and ultrasound-guided arterial access: an analysis of the SURF trial. Heart Lung Circ, 2021, 30 (9): 1329-36. doi: 10.1016/j.hlc.2021.02.006
[10] Looi J.L, Cave A, El-Jack S. Learning curve in transradial coronary angiography. Am J Cardiol, 2011, 108 (8): 1092-5. doi: 10.1016/j.amjcard.2011.06.009