NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TẬT KHÚC XẠ Ở HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI TỈNH QUẢNG NAM NĂM 2022

Trương Quang Bình1, Lương Mai Anh2, Phạm Văn Tần3, Nguyễn Minh Tâm4
1 Sở Y tế Đà Nẵng
2 Bộ Y tế
3 Bệnh viện Mắt Trung ương
4 Bệnh viện Quân y 7A, Quân khu 7

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Phân tích, xác định một số yếu tố có liên quan với tình trạng cận thị ở học sinh 5 trường tiểu học: Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai, Kim Đồng Bắc Trà My, Kim Đồng Tiên Phước và Mính Viên tỉnh Quảng Nam năm 2023.


Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả có phân tích 1148 học sinh lớp 2, lớp 3 tại 5 trường tiểu học trên.


Kết quả: Các yếu tố có liên quan với tật khúc xạ ở học sinh tiểu học tỉnh Quảng Nam gồm: học thêm (OR = 4,761; 95% CI = 2,375-9,543; p < 0,01); ngồi học ở nơi thiếu ánh sáng thêm (OR = 6,455; 95% CI = 3,454-12,065; p < 0,01); sai tư thế khi ngồi học (OR = 2,658; 95% CI = 1,271-5,560; p < 0,01); thường xuyên xem tivi (OR = 4,058; 95% CI = 1,694-9,720; p < 0,01); thường xuyên chơi điện tử ((OR = 6,910; 95% CI = 3,835-12,451; p < 0,01); giúp gia đình (OR = 3,135; 95% CI = 1,602-6,136; p < 0,01); thường xuyên đọc truyện (OR = 3,335; 95% CI = 1,725-6,446; p < 0,01); tiền sử gia đình bị tật khúc xạ (OR = 4,085; 95% CI = 2,231-7,189; p < 0,01); không thường xuyên giúp việc gia đình (OR = 3,135; 95% CI = 1,602-6,136; p < 0,01).


Kết luận: Học thêm, ngồi học ở nơi thiếu ánh sáng, sai tư thế khi ngồi học, thường xuyên xem tivi, thường xuyên chơi điện tử, giúp gia đình, thường xuyên đọc truyện, tiền sử gia đình bị tật khúc xạ, không thường xuyên giúp việc gia đình là các yếu tố liên quan với tật khúc xạ ở học sinh tiểu học.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Yang Z et al. Global disease burden of uncorrected refractive error among adolescents from 1990 to 2019. BMC Public Health, 2021, 21 (1): 1975. 10.1186/s12889-021-11988-w.
[2] Hashemi H et al. Global and regional prevalence of age-related cataract: a comprehensive systematic review and meta-analysis. Eye, 2020, 34 (8): 1357-1370. 0.1038/s41433-020-0892-x.
[3] Trần Đức Nghĩa. Thực trạng cận thị ở học sinh tiểu học thành phố Điện Biên Phủ và hiệu quả một số giải pháp can thiệp. Luận án tiến sỹ y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội, 2019.
[4] Trịnh Quang Trí. Thực trạng và hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tật khúc xạ ở học sinh tiểu học dân tộc Khmer tại đồng bằng sông Cửu Long. Luận án tiến sỹ y học, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Hà Nội, 2024.
[5] Habani S. The impact of excessive digital screen use on refractive error progression over 1 year among schoolchildren in Northwest Algeria. Beyoglu Eye Journal, 2024, 9 (4): 190-201. https://doi.org/10.14744/bej.2024.68094.
[6] Trần Tất Thắng, Nguyễn Sa Huỳnh. Đặc điểm cận thị và yếu tố liên quan đến cận thị ở học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 54 (3): 108-111. https://doi.org/10.51298/vmj.v548i3.13656.
[7] Trần Tất Thắng, Nguyễn Sa Huỳnh, Nguyễn Thị Giang An, Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Nguyễn Thị Mai Thơ. Thực trạng cận thị học đường và các yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại quận I thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Y học Việt Nam, 2022, 515 (2): 60-63. https://doi.org/10.51298/vmj.v515i2.2757.
[8] Zhang P, Zhu H. Light signaling and myopia development: A review. Ophthalmol Ther, 2022, 11 (3): 939-957. 10.1007/s40123-022-00553-8.
[9] Foreman J et al. Association between digital smart device use and myopia: a systematic review and meta-analysis. Lancet Digit Health, 2021, 3 (1): e806-e818. 10.1016/S2589-7500(20)30291-4.
[10] Enthoven C.A, Tideman J.W.L et al. The impact of computer use on myopia development in childhood: The Generation R study. Prev Med (Baltim), 2020, 132: 105988. 10.1016/j.ypmed.2020.105988..