Mục tiêu: Mô tả tình trạng kháng thể bất thường kháng hồng cầu (KTBT) và kết quả truyền máu, hồi sức ở sản phụ có KTBT và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 2.900 phụ nữ có thai thuộc nhóm nguy cơ được sàng lọc KTBT. Trong 87 sản phụ có KTBT, đặc điểm truyền máu được mô tả ở 6 trường hợp có chỉ định truyền; kết quả lâm sàng và xử trí được phân tích ở 67 trẻ sơ sinh có dữ liệu theo dõi.
Kết quả: KTBT được phát hiện ở 3,0% sản phụ được sàng lọc; 94,3% có Rh(D) dương tính và 40,2% không định danh được kháng thể. Anti-Miᵃ là kháng thể được định danh phổ biến nhất (39,1%). Trong 6 sản phụ được truyền máu, 5 trường hợp sử dụng khối hồng cầu phù hợp genotype; các chỉ số hồng cầu, Hb và Hct sau truyền có xu hướng tăng. Trong 67 trẻ sơ sinh, vàng da gặp ở 26,9%, vàng da tan máu 16,4%; 4,5% được truyền máu và 3,0% được thay máu. Không ghi nhận tử vong.
Kết luận: Trong nhóm sản phụ có yếu tố nguy cơ được sàng lọc, tỷ lệ phát hiện KTBT là 3,0%, trong đó anti-Miᵃ phổ biến nhất. Phần lớn sản phụ có chỉ định truyền máu được sử dụng khối hồng cầu phù hợp genotype. Vàng da và vàng da tan máu là các biểu hiện thường gặp ở trẻ sơ sinh có dữ liệu theo dõi.