Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 04/11/2026

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM ỨNG DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CỔ VAI CÁNH TAY TRÊN LÂM SÀNG

Nguyễn Tuấn Dũng, Lê Ngọc Châu, Nguyễn Phi Thuyền, Ngô Thị Bé Tư, Trịnh Bảo Ngọc, Trịnh Bảo Ngọc, Lê Nhất Duy, Phan Lê Đình Trung, Huỳnh Võ Quốc Kha
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6964
36 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát thực trạng ứng dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc y học cổ truyền và phân tích đặc điểm lựa chọn, phối hợp huyệt vị trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên hồ sơ bệnh án hội chứng cổ vai cánh tay có điều trị bằng ít nhất một phương pháp điều trị không dùng thuốc y học cổ truyền tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 3 và Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm R, bao gồm thống kê mô tả, phân tích mạng lưới và phân tích cụm.

Kết quả: Có 11 phương pháp không dùng thuốc y học cổ truyền thường được chỉ định điều trị hội chứng cổ vai cánh tay, trong đó xoa bóp bấm huyệt (56,3%) và thủy châm (49,4%) là hai phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Phân tích mạng lưới và phân cụm cho thấy đặc điểm phối hợp huyệt khác nhau giữa các phương pháp điều trị, thủy châm có sự ưu tiên sử dụng huyệt tại chỗ phù hợp với cơ chế điều trị của châm cứu kết hợp thuốc dinh dưỡng thần kinh, điện châm và hào châm lại ưu tiên sử dụng huyệt trên đường kinh kết hợp với a thị huyệt để tăng hiệu quả điều trị bệnh.

Kết luận: Các phương pháp điều trị không dùng thuốc y học cổ truyền được ứng dụng đa dạng trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay. Đặc điểm lựa chọn và phối hợp huyệt vị khác nhau giữa các phương pháp, đồng thời thể hiện tính quy luật và tính linh hoạt trong thực hành lâm sàng.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Nguyễn Thị Bay, Lê Thị Lan Hương. Bệnh học và điều trị nội khoa kết hợp đông tây y, tập 2. Nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh, 2022. Google Scholar
[2]
[2] Mansfield M, Smith T, Spahr N, Thacker M. Cervical spine radiculopathy epidemiology: a systematic review. Musculoskeletal Care, 2020, 18 (4): 555-567. doi: 10.1002/msc.1498 Google Scholar
[3]
[3] Bộ Y tế. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh theo y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2020. Google Scholar
[4]
[4] Cao Lê Bình An, Trần Anh Vũ, Tăng Khánh Huy, Lê Bảo Lưu. Tình hình sử dụng các phương pháp điều trị y học cổ truyền trên người bệnh thoái hóa cột sống cổ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 535 (1): 123-128. doi: 10.51298/vmj.v535i1.8363 Google Scholar
[5]
[5] Lim S. WHO Standard Acupuncture Point Locations. Evid Based Complement Alternat Med, 2010, 7 (2): 167-8. doi: 10.1093/ecam/nep006 Google Scholar
[6]
[6] World Federation of Acupuncture-Moxibustion Societies. Auricular Acupuncture Point (WFAS Standard-002:2011). Beijing, 2011. Google Scholar
[7]
[7] Võ Trọng Tuân, Nguyễn Thị Anh Đào. Xoa bóp bấm huyệt. Nhà xuất bản Y học, 2021. Google Scholar
[8]
[8] Liu Z.F, Wang H.R, Yu T.Y et al. Tuina for peripherally-induced neuropathic pain: a review of analgesic mechanism. Front Neurosci, 2022, 16: 1096734. doi: 10.3389/fnins.2022.1096734 Google Scholar
[9]
[9] Terayama H, Yamazaki H, Kanazawa T et al. Multi-acupuncture point injections and their anatomical study in relation to neck and shoulder pain syndrome (so-called katakori) in Japan. PLoS One, 2015, 10 (6): e0129006. doi: 10.1371/journal.pone.0129006 Google Scholar
[10]
[10] Trịnh Thị Diệu Thường (chủ biên). Châm cứu học 2 (Giáo trình giảng dạy đại học), tái bản lần thứ nhất, có chỉnh sửa và bổ sung. Nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh, 2021. Google Scholar
[11]
[11] Zhang L.Z, Wu L.Q, Chen R.Z et al. Acupoint selection rules of acupuncture for cervical spondylotic radiculopathy based on data mining. Zhongguo Zhen Jiu, 2020, 40 (11): 1259-62. doi: 10.13703/j.0255-2930.20190905-0001 Google Scholar