Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 31/10/2026

SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG VÀ SAU PHẪU THUẬT NỘI SOI THOÁT VỊ BẸN Ở TRẺ EM CỦA GÂY TÊ KHOANG CÙNG GIỮA THỂ TÍCH 1ML/KG VÀ 1,25 ML/KG LEVOBUPIVACAINE VỚI TỔNG LIỀU 2 MG/KG

Nguyễn Thị Ngọc Hà, Phạm Xuân Hùng
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6913
23 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau và đánh giá các tác dụng không mong muốn của gây tê khoang cùng bằng levobupivacaine tổng liều 2 mg/kg với thể tích 1 mL/kg và 1,25 mL/kg trong phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn ở trẻ em.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 60 trẻ (12–60 tháng tuổi) phẫu thuật nội soi thoát vị bẹn tại Bệnh viện Nhi Hải Phòng. Trẻ được chia ngẫu nhiên thành nhóm 1 dùng levobupivacaine 0,2% (thể tích 1 mL/kg) và nhóm 2 dùng levobupivacaine 0,16% (thể tích 1,25 mL/kg); cả hai nhóm dùng tổng liều 2 mg/kg phối hợp fentanyl 0,1 µg/kg.

Kết quả: Nhóm 1 đạt phong bế cảm giác T10 và T12 nhanh hơn (p < 0,001). Tuy nhiên, nhóm 2 có nhịp tim trong mổ thấp hơn, thời gian bắt đầu đau sau mổ muộn hơn (171,5 ± 5,9 so với 120,8 ± 7,0 phút), điểm FLACC khi vận động thấp hơn và số lần sử dụng thuốc giảm đau cứu hộ ít hơn (p < 0,05). Chất lượng gây tê, EtCO₂ và tỷ lệ tác dụng không mong muốn không khác biệt giữa hai nhóm (p > 0,05).

Kết luận: Gây tê khoang cùng bằng levobupivacaine 0,16% (thể tích 1,25 mL/kg, tổng liều 2 mg/kg) kéo dài thời gian giảm đau, giảm điểm đau và nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau cứu hộ so với thể tích 1 mL/kg, không ghi nhận khác biệt về các biến cố đã khảo sát trong nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Abdulhai SA, Glenn IC, Ponsky TA. Inguinal hernia. Clin Perinatol. 2017;44(4):865-877. doi:10.1016/j.clp.2017.08.005. Google Scholar
[2]
2. Esposito C, Escolino M, Turrà F, et al. Current concepts in the management of inguinal hernia and hydrocele in pediatric patients in laparoscopic era. Semin Pediatr Surg. 2016;25(4):232–240. doi:10.1053/j.sempedsurg.2016.05.006. Google Scholar
[3]
3. Chan KL, Hui WC, Tam PKH. Prospective randomized single-center, single-blind comparison of laparoscopic vs open repair of pediatric inguinal hernia. Surg Endosc. 2005;19(7):927–932. doi:10.1007/s00464-004-8224-3. Google Scholar
[4]
4. Dreuning K, Maat S, Twisk JWR, van Heurn E, Derikx JPM. Laparoscopic versus open pediatric inguinal hernia repair: state-of-the-art comparison and future perspectives from a meta-analysis. Surg Endosc. 2019;33(10):3177–3191. doi:10.1007/s00464-019-06960-2. Google Scholar
[5]
5. Ingelmo PM, Locatelli BG, Sonzogni V, Gattoni C, Cadisco A, Lorini M, et al. Caudal 0.2% ropivacaine is less effective during surgery than 0.2% levobupivacaine and 0.2% bupivacaine: a double-blind, randomized, controlled trial. Paediatr Anaesth. 2006;16(9):955–961. doi:10.1111/j.1460-9592.2006.01903.x. Google Scholar
[6]
6. She YJ, Xie GT, Tan YH, et al. A prospective study comparing the onset and analgesic efficacy of different concentrations of levobupivacaine with/without dexmedetomidine in young children undergoing caudal blockade. J Clin Anesth. 2015;27(1):17–22. doi:10.1016/j.jclinane.2014.09.005. Google Scholar
[7]
7. Hong JY, Han SW, Kim WO, Cho JS, Kil HK. A comparison of high-volume/low-concentration and low-volume/high-concentration ropivacaine in caudal analgesia for pediatric orchiopexy. Anesth Analg. 2009;109(4):1073–1078. doi:10.1213/ANE.0b013e3181b20c52. Google Scholar
[8]
8. Cyriac M, Arjun PS, Subbaiah GP, et al. Comparative evaluation of caudal block administration of ropivacaine, levobupivacaine and bupivacaine in pediatric patients undergoing lower abdominal surgeries. Int J Health Sci. 2022;6(S6):11441–11447. doi:10.53730/ijhs.v6nS6.13174. Google Scholar
[9]
9. Kim HJ, Kim H, Lee S, et al. Reconsidering injection volume for caudal epidural block in young pediatric patients: a dynamic flow tracking experimental study. Reg Anesth Pain Med. 2024;49(5):355–360. doi:10.1136/rapm-2023-104409. Google Scholar
[10]
10. Xu W, Wei H, Zhang T. Methods of prolonging the effect of caudal block in children. Front Pediatr. 2024;12:1406263. doi:10.3389/fped.2024.1406263. Google Scholar