Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 31/10/2026

ỨNG DỤNG NUÔI ĂN BẰNG ỐNG THÔNG MIỆNG - THỰC QUẢN Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NÃO CÓ RỐI LOẠN NUỐT MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH

Nguyễn Đăng Cương, Đỗ Đức Thuần
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6911
39 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả ứng dụng nuôi ăn bằng ống thông miệng - thực quản ở bệnh nhân đột quỵ não có rối loạn nuốt mức độ trung bình.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, một nhóm, đánh giá trước - sau tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 (8/2025-5/2026) trên 48 bệnh nhân đột quỵ, GCS ≥ 12 điểm, GUSS 10-14 điểm. Người bệnh được nuôi ăn bằng ống thông miệng - thực quản kết hợp phục hồi chức năng nuốt trong 2 tuần.

Kết quả: Tuổi trung bình 72,3 ± 10,8; nam 56,3%. Thời gian đặt ống 4,8 ± 2,1 phút, số lần đặt đến thành công 1,4 ± 0,6. Đau khi đặt gặp ở 47,9%, buồn nôn/nôn và ho/sặc cùng 35,4%, tím tái/khó thở 4,2%; đầy bụng và tắc ống cùng 33,3%. Sau 2 tuần, GUSS tăng từ 11,8 ± 1,3 điểm lên 18,1 ± 1,9 điểm (p < 0,001), GCS tăng lên 14,7 ± 0,6 điểm và NIHSS giảm còn 10,3 ± 5,2 điểm (đều có p = 0,001). Cân nặng và albumin tăng có ý nghĩa; tuổi tương quan nghịch với cải thiện GUSS. Điểm hài lòng đạt 4,0 ± 0,6/5 điểm.

Kết luận: Ở nhóm bệnh nhân đột quỵ có rối loạn nuốt mức độ trung bình còn khả năng hợp tác, nuôi ăn bằng ống thông miệng - thực quản kết hợp phục hồi chức năng nuốt có thể triển khai và ghi nhận sự cải thiện chức năng nuốt sau 2 tuần. Do thiết kế trước - sau không nhóm chứng, chưa thể quy kết mức cải thiện quan sát được là hiệu quả riêng của ống thông miệng - thực quản.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Song W, Wu M et al. Prevalence, risk factors, and outcomes of dysphagia after stroke: a systematic review and meta - analysis. Front Neurol, 2024, 15: 1403610. doi: 10.3389/fneur.2024.1403610. Google Scholar
[2]
[2] Sabbouh T, Torbey M.T. Malnutrition in stroke patients: risk factors, assessment, and management. Neurocrit Care, 2018, 29 (3): 374-384. doi: 10.1007/s12028-017-0436-1 Google Scholar
[3]
[3] Park J.W, Park K.D et al. Comparison of tube feeding in stroke patients: Nasogastric tube feeding versus oroesophageal tube feeding - a pilot study. Medicine (Baltimore), 2019, 98 (30): e16472. doi: 10.1097/MD.0000000000016472. Google Scholar
[4]
[4] Zeng H, Zhao W et al. Effect of intermittent oroesophageal tube feeding in bulbar palsy after ischemic stroke: a randomized controlled study. Stroke, 2024, 55 (5): 1142-1150. doi: 10.1161/STROKEAHA.123.046122. Google Scholar
[5]
[5] Wu C, Zhu X et al. Intermittent tube feeding for stroke patients with dysphagia: a meta - analysis and systematic review. Ann Palliat Med, 2021 10 (7): 7406-7415. doi: 10.21037/apm-21-736. Google Scholar
[6]
[6] Trapl M, Enderle P, Nowotny M et al. Dysphagia bedside screening for acute - stroke patients: the Gugging Swallowing Screen. Stroke, 2007, 38 (11): 2948-2952. doi: 10.1161/STROKEAHA.107.483933. Google Scholar
[7]
[7] Martino R, Foley N et al. Dysphagia after stroke: incidence, diagnosis and pulmonary complications. Stroke, 2005, 36 (12): 2756-2763. doi: 10.1161/01.STR.0000190056.76543.eb Google Scholar
[8]
[8] Nguyen Thi Thu Hien, Tran Huu Thong et al. The effect of behavioral therapy on dysphagia of acute ischemic stroke patients feeding with a nasogastric tube. PLoS One, 2024, 19 (4): e0299068. doi: 10.1371/journal.pone.0299068. Google Scholar