Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 31/10/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG NANG XƯƠNG HÀM DO RĂNG TRÊN NHÓM NGƯỜI BỆNH ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP MỞ THÔNG VỚI MÁNG BỊT

Trương Mạnh Nguyên, Phạm Hoàng Tuấn, Hoàng Kim Loan, Ngô Thế Mạnh, Phan Hưng Phúc, Trần Thị Thu Quỳnh
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6906
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của nang xương hàm do răng trên nhóm người bệnh được điều trị bằng phương pháp mở thông với máng bịt tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội,

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, không đối chứng trên 36 người bệnh có nang xương hàm do răng, được điều trị bằng phương pháp mở thông với máng bịt tại khoa Phẫu thuật Hàm Mặt, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương.

Kết quả: Nghiên cứu ghi nhận 36 người bệnh với tổng số 40 nang xương hàm, lứa tuổi dưới 14 chiếm ưu thế (chiếm 91,7%). Tỷ lệ nam/nữ là 1,25:1. Lý do đến khám thường gặp nhất là biến dạng mặt (chiếm 66,7%) và đẩy phồng bản xương là triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất (86,1%), trong đó 67,5% trường hợp có đẩy phồng bản xương ngoài. Nang tập trung chủ yếu ở xương hàm dưới (77,5%), trong đó vùng phía sau hàm dưới chiếm 90,3%; ngược lại ở hàm trên, nang hay gặp ở vùng phía trước (55,6%). Đa số tổn thương có viền đều, rõ (95%) và dịch không thuần nhất (90%). Về liên quan tới cấu trúc lân cận, nang chủ yếu đẩy lệch trục răng lân cận (77,5%). Theo giải phẫu bệnh, nang chân răng chiếm tỷ lệ cao nhất (67,5%), chủ yếu ở hàm dưới (60% tổng số nang); 24/27 nang chân răng liên quan răng sữa. Về thể tích, nhóm thể tích nang từ 3–6cm3 chiếm tỉ lệ cao nhất với 40%.

Kết luận: Trong nhóm người bệnh nang xương hàm do răng được chỉ định mở thông với máng bịt, biến dạng mặt và đẩy phồng xương là những biểu hiện thường gặp; nang chân răng chiếm tỷ lệ cao nhất và phần lớn liên quan răng sữa. Thể tích nang lớn hơn có xu hướng đi kèm mức độ đẩy phồng xương nhiều hơn. Kết quả mô tả này cung cấp thông tin cho lựa chọn và theo dõi điều trị bảo tồn ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu, chưa đủ để suy rộng cho toàn bộ nang xương hàm do răng hoặc khẳng định hiệu quả độc lập của phương pháp mở thông.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Trần Phương Thảo, Võ Trương Như Ngọc, Lê Ngọc Phương Linh và cộng sự. Effectiveness of marsupialization on the reduction of cystic jaw lesions in children: A scoping review. Oral Sci Int. 2025;22(1):e1267. doi:10.1002/osi2.1267 Google Scholar
[2]
[2] Meningaud JP, Oprean N, Pitak-Arnnop P, et al. Odontogenic cysts: a clinical study of 695 cases. J Oral Sci. 2006 Jun;48(2):59-62. Google Scholar
[3]
[3] Lo Muzio L. Nevoid basal cell carcinoma syndrome (Gorlin syndrome). Orphanet J Rare Dis. 2008;3(1):32. doi:10.1186/1750-1172-3-32 Google Scholar
[4]
[4] Vidi B, Gil-Valcarcel AM, Obispo-Diaz C, et al. Description of the root anatomy of the primary molars using high resolution computed microtomography (Micro-CT). An analysis of three-dimensional root canal system. Front Dent Med. 2025 Jan 6;5:1522414. Google Scholar
[5]
[5] Lugliè PF, Grabesu V, Spano G, Lumbau A. Accessory foramina in the furcation area of primary molars. A SEM investigation. Eur J Paediatr Dent. 2012 Dec;13(4):329-32. Google Scholar
[6]
[6] Cassetta M, Sofan AA, Altieri F, et al. Evaluation of alveolar cortical bone thickness and density for orthodontic mini-implant placement. J Clin Exp Dent. 2013;5(5):e245-e252. Google Scholar