Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, nội tiết và kiểu hình của bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang trong độ tuổi sinh sản tại Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 263 bệnh nhân được chẩn đoán buồng trứng đa nang theo tiêu chuẩn Rotterdam (2003).
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 30,0 ± 3,6. BMI trung bình là 22,5 ± 1,8 kg/m², tỷ lệ thừa cân/béo phì chiếm 39,2%. Kiểu hình D chiếm tỷ lệ cao nhất (55,1%), tiếp theo là kiểu hình A (39,6%). Các chỉ số BMI, AMH, LH, tỷ lệ LH/FSH, testosterone và AFC khác biệt có ý nghĩa giữa các kiểu hình (p < 0,001). Nồng độ AMH tương quan thuận mức trung bình với số lượng nang noãn trên siêu âm (r = 0,560; p < 0,001). BMI cao hơn ở nhóm có cường androgen so với nhóm không có cường androgen (p < 0,001).
Kết luận: Bệnh nhân buồng trứng đa nang chủ yếu trong độ tuổi 25-34, kiểu hình D chiếm ưu thế. BMI liên quan với tình trạng cường androgen. Nồng độ AMH có tương quan thuận với số lượng nang noãn trên siêu âm, cho thấy giá trị của AMH trong đánh giá dự trữ buồng trứng và hỗ trợ chẩn đoán buồng trứng đa nang.