Bài báo khoa học Tập 67 Số 10 25/10/2026

CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH VÀ KẾT QUẢ THAI NGHÉN CỦA NHỮNG TRƯỜNG HỢP DỊ DẠNG BẠCH MẠCH DẠNG NANG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Trần Thùy Linh, Trần Danh Cường, Nguyễn Thị Thùy Dương, Nguyễn Thị Bích Vân
DOI: 10.52163/yhc.v67i10.6874
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm chẩn đoán trước sinh và kết quả thai nghén của các trường hợp thai nhi được chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nang tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 227 trường hợp đơn thai được chẩn đoán dị dạng bạch mạch dạng nang tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Kết quả: Tuổi thai phụ trung vị 30 (27-35) tuổi; 74,4% chẩn đoán ở 11-13 tuần 6 ngày. KSSG trung bình 8,31 mm. Dị dạng đơn độc chiếm 71,8%; phù thai thường gặp nhất (39,2%). Chọc ối được thực hiện ở 38/227 trường hợp (16,7%); 18/38 trường hợp được xét nghiệm (47,4%) có phát hiện bất thường NST hoặc biến thể di truyền. Đình chỉ thai nghén chiếm 87,7%, sảy thai 2,2%, trẻ sinh sống 7,9% và tiếp tục theo dõi 2,2%.

KSSG liên quan với tỷ lệ trẻ sinh ra bình thường (p<0,001); nhóm <6 mm có tỷ lệ cao nhất (23,1%).

Kết luận: Dị dạng bạch mạch dạng nang thường được phát hiện sớm trong quý I và có tiên lượng thai nghén dè dặt. KSSG và bất thường hình thái phối hợp là các yếu tố quan trọng trong tư vấn trước sinh, chỉ định xét nghiệm di truyền và theo dõi thai kỳ.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology, Bilardo CM, Chaoui R, Hyett JA, Kagan KO, Karim JN, et al. ISUOG Practice Guidelines (updated): performance of 11-14-week ultrasound scan. Ultrasound Obstet Gynecol. 2023;61(1):127-143. doi:10.1002/uog.26106. Google Scholar
[2]
[2] Malone FD, Ball RH, Nyberg DA, Comstock CH, Saade GR, Berkowitz RL, et al. First-trimester septated cystic hygroma: prevalence, natural history, and pediatric outcome. Obstet Gynecol. 2005;106(2):288-294. doi:10.1097/01.AOG.0000173318.54978.1f. Google Scholar
[3]
[3] Wang MJ, Bazan M, Hsieh T, Mita C, Ferrés MA, Oyelese Y. Perinatal outcomes of cystic hygroma: a systematic review and meta-analysis. Am J Obstet Gynecol MFM. 2025;7(7):101704. doi:10.1016/j.ajogmf.2025.101704. Google Scholar
[4]
[4] Chen YN, Chen CP, Lin CJ, Chen SW. Prenatal ultrasound evaluation and outcome of pregnancy with fetal cystic hygromas and lymphangiomas. J Med Ultrasound. 2017;25(1):12-15. doi:10.1016/j.jmu.2017.02.001. Google Scholar
[5]
[5] Yakıştıran B, Altınboğa O, Canpolat E, Çakar EŞ, Çelen Ş, Çağlar AT, Üstün YE. Analysis of cystic hygroma diagnosed in the first trimester: single-center experience. J Turk Ger Gynecol Assoc. 2020;21(2):107-110. doi:10.4274/jtgga.galenos.2019.2019.0032. Google Scholar
[6]
[6] Aymelek HS, Oğur G, Tosun M, Abur U, Altundağ E, Çelik H, et al. Genetic burden and outcome of cystic hygromas detected antenatally: results of 93 pregnancies from a single center in the northern region of Turkey. J Med Ultrasound. 2019;27(4):181-186. Google Scholar
[7]
[7] Molina FS, Avgidou K, Kagan KO, Poggi S, Nicolaides KH. Cystic hygromas, nuchal edema, and nuchal translucency at 11-14 weeks of gestation. Obstet Gynecol. 2006;107(3):678-683. Google Scholar
[8]
[8] Ghi T, Sotiriadis A, Calda P, et al. ISUOG Practice Guidelines: invasive procedures for prenatal diagnosis. Ultrasound Obstet Gynecol. 2016;48(2):256-268. doi:10.1002/uog.15945. Google Scholar
[9]
[9] Phạm Xuân Minh, Trần Danh Cường. Nghiên cứu chẩn đoán trước sinh dị dạng bạch mạch dạng nang tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp chí Phụ sản. 2017;15(2):95-99. doi:10.46755/vjog.2017.2.335. Google Scholar
[10]
[10] Narava S, Balbir Singh S, Barpanda S, Bricker L. Outcome of pregnancies with first-trimester increased nuchal translucency and cystic hygroma in a tertiary maternity hospital in United Arab Emirates. Int J Gynaecol Obstet. 2022;159(3):841-849. doi:10.1002/ijgo.14222. Google Scholar