Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối bắt đầu thận nhân tạo bằng đường vào mạch máu tạm thời và đánh giá một số đặc điểm sử dụng, biến chứng đường vào mạch máu tạm thời ở nhóm đối tượng nghiên cứu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ mô tả hồi cứu trên 43 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đặt catheter tạm thời lọc máu cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn từ tháng 08/2025 đến tháng 03/2026. Kết quả: Tuổi trung bình là 69,6 ± 13,2 tuổi. Triệu chứng lâm sàng thường gặp: phù (65,1%), tăng huyết áp (58,1%), khó thở (51,2%). Nồng độ hemoglobin trung bình 84,8 ± 17,1 g/l. Đa số bệnh nhân có thiếu máu ở các mức độ khác nhau: mức độ nhẹ (25,6%), mức độ vừa (65,1%) và mức độ nặng (7,0%). Chỉ định thận nhân tạo cấp cứu là hội chứng ure máu cao (55,8%), phù phổi cấp, quá tải dịch (34,9%), toan chuyển hóa (14,0%), thiểu niệu, vô niệu (9,3%), tăng kali máu (2,3%). Đường vào mạch máu tạm thời sử dụng nhiều nhất là tĩnh mạch đùi phải (81,4%). Thời gian lưu catheter trung vị là 14 ngày. Số lần lọc máu trung vị cho mỗi catheter là 6 lần với thời gian lọc máu trung vị là 20 giờ. Biến chứng của đường vào mạch máu tạm thời: nhiễm trùng (12,1/1000 catheter-days), suy chức năng (8,4/1000 catheter-days), chảy máu (1,2/1000 catheter-days).
Kết luận: Bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối bắt đầu thận nhân tạo bằng đường vào mạch máu tạm thời chủ yếu qua tĩnh mạch đùi phải. Chỉ định thận nhân tạo cấp cứu chính là hội chứng ure máu cao và phù phổi cấp, quá tải dịch. Biến chứng đường vào mạch máu tạm thời hay gặp là nhiễm trùng và suy chức năng catheter.