Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ15 25/09/2026

TÌNH TRẠNG LO ÂU VÀ NĂNG LỰC SỨC KHỎE Ở NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TẠI BỆNH VIỆN K, CƠ SỞ 3 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2026

Nguyễn Thị Kim Liên, Phạm Việt Hà, Lê Trí Chinh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD15.6813
49 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tình trạng lo âu và năng lực sức khỏe ở người bệnh sau phẫu thuật ung thư cổ tử cung và phân tích một số yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện trên 215 người bệnh ung thư cổ tử cung được phẫu thuật tại Khoa Ngoại Phụ khoa, Bệnh viện K cơ sở 3 từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026. Số liệu được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp tại thời điểm bệnh nhân ra viện. Công cụ nghiên cứu gồm thang đo lo âu trạng thái STAI-S và thang đo năng lực sức khỏe HLS-SF12. Số liệu được xử lý bằng phần mềm Epidata và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm thống kê phù hợp.

Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có lo âu là 68,9%, trong đó lo âu mức độ vừa chiếm 45,6% và lo âu nặng chiếm 23,3%. Về năng lực sức khỏe, phần lớn người bệnh ở mức kém (52,6%) và rất kém (29,3%); chỉ 18,1% có đủ năng lực sức khỏe. Điểm trung bình năng lực sức khỏe chung đạt 29,21 ± 7,41. Các yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng lo âu bao gồm: nơi ở (OR = 2,03), nghề nghiệp (OR = 1,86), thu nhập (OR = 4,5), giai đoạn bệnh (OR = 6,93), tiền sử phẫu thuật (OR = 3,07), nhu cầu sinh sản (OR = 3,53) và năng lực sức khỏe (OR = 3,29) (p < 0,05).

Kết luận: Tình trạng lo âu ở người bệnh sau phẫu thuật ung thư cổ tử cung chiếm tỷ lệ cao và năng lực sức khỏe còn hạn chế. Nhiều yếu tố kinh tế - xã hội, lâm sàng và năng lực sức khỏe có liên quan đến lo âu.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Zhao H, Zhao Z, Chen C. Prevalence, risk factors and prognostic value of anxiety and depression in cervical cancer patients underwent surgery. Translational Cancer Research, 2020, 9 (1): 65-74. Google Scholar
[2]
[2] Truong D.V, Bui Q.T.T, Nguyen D.T, Moore J. Anxiety among inpatients with cancer: findings from a hospital-based cross-sectional study in Vietnam. Cancer Control, 2019, 26 (1): 1073274819864641. doi: 10.1177/1073274819864641 Google Scholar
[4]
[4] Trần Thị Thu Huyền và cộng sự. Đánh giá chức năng tâm lý và sinh lý ở người bệnh sau phẫu thuật cắt tử cung toàn bộ do ung thư tại Khoa Ngoại phụ khoa, Bệnh viện K năm 2023. Tạp chí Y học cộng đồng, 2023, 66 (CĐ7): 243-248. doi: 10.52163/yhc.v66iCD7.2422 Google Scholar
[5]
[5] Duong V.T, Nguyen T.T.P, Pham K.M et al. Validation of the short-form health literacy questionnaire (HLS-SF12) and its determinants among people living in rural areas in Vietnam. Int J Environ Res Public Health, 2019, 16 (18): 3346. doi: 10.3390/ijerph16183346. Google Scholar
[6]
[6] Yang C.M, Sung F.C et al. Anxiety and depression risk in Taiwan women with breast cancer and cervical cancer. Frontiers in Oncology, 2022, 12: 946029. doi: 10.3389/fonc.2022.946029. Google Scholar
[7]
[7] Nguyễn Thị Thúy Hằng và cộng sự. Sự hỗ trợ xã hội và mức độ trầm cảm, lo âu, stress ở bệnh nhân ung thư điều trị tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế năm 2022. Tạp chí Y học Dự phòng, 2024, 33 (6): 115-122. doi: 10.51403/0868-2836/2023/1388 Google Scholar
[8]
[8] Li Q, Liu L, Gu Z et al. Sense of coherence mediates perceived social support and depressive and anxiety symptoms in cervical cancer patients: a cross-sectional study. BMC Psychiatry, 2023, 23 (1): 312. doi: 10.1186/s12888-023-04792-y. Google Scholar