Mục tiêu: Mô tả đặc điểm tổn thương, kỹ thuật tái tạo và kết quả chức năng theo thang điểm MSTS của bệnh nhân được phẫu thuật bảo tồn chi bằng ghép xương tự thân tái chế xử lý với nitơ lỏng.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt ca trên 36 bệnh nhân được chẩn đoán bướu xương ác tính/trung gian hoặc bướu phần mềm ác tính xâm lấn xương, được phẫu thuật cắt rộng bướu, tái tạo khuyết hổng xương bằng ghép xương tự thân tái chế xử lý với nitơ lỏng tại năm cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 04/2020 đến tháng 02/2025. Điểm chức năng MSTS được đánh giá trên bệnh nhân còn chi tại thời điểm theo dõi cuối cùng.
Kết quả: Mẫu nghiên cứu bao gồm 10 loại bướu khác nhau, trong đó nhóm sarcoma tạo xương chiếm 72,2%. Kỹ thuật cũng được áp dụng tại bốn vị trí ít được báo cáo trong y văn: xương trụ, xương mác, xương gót và xương bả vai. Ghép đoạn xương kèm mặt khớp là kỹ thuật tái tạo thường gặp nhất (55,6%). Chiều dài khuyết hổng trung bình 15,9 ± 4,4 cm. Điểm chức năng MSTS trên 28 bệnh nhân còn chi đạt trung bình 80,0 ± 11,8% (trung vị 85,0%), kết quả tốt và rất tốt chiếm 75,0%. Điểm MSTS trung bình ở nhóm ghép đoạn thân xương và nhóm ghép đoạn xương kèm mặt khớp lần lượt là 85,9% và 79,2%; chưa ghi nhận khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,137).
Kết luận: Ghép xương tự thân tái chế xử lý với nitơ lỏng đã được áp dụng cho nhiều loại bướu xương và phần mềm tại nhiều vị trí giải phẫu khác nhau. Kết quả chức năng ở nhóm bệnh nhân còn chi tương đối khả quan, nằm trong khoảng ghi nhận của y văn.