Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

THỰC TRẠNG TRIỆU CHỨNG LO ÂU, TRẦM CẢM VÀ CĂNG THẲNG Ở ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI BỆNH VIỆN PHỔI HẢI DƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Phạm Thị Lan Phương, Nguyễn Thị Hảo, Lê Văn Quân, Phạm Thị Hằng
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6698
65 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ triệu chứng lo âu, trầm cảm, căng thẳng theo DASS-21 và khảo sát một số yếu tố liên quan ở điều dưỡng viên lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Hải Dương năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 83 điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh tại các khoa lâm sàng từ tháng 06/2025 đến tháng 12/2025. DASS-21 phiên bản tiếng Việt được sử dụng để sàng lọc triệu chứng trong tuần trước khảo sát. Các mối liên quan được phân tích đơn biến bằng kiểm định chính xác Fisher hoặc Fisher-Freeman-Halton; tỷ số odds thô (OR) và khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) được ước tính cho mối liên quan giữa thời gian làm việc và lo âu.

Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng viên có điểm DASS-21 từ mức nhẹ trở lên là 50,6% đối với trầm cảm, 65,1% đối với lo âu và 45,8% đối với căng thẳng. Nhóm làm việc trên 8 giờ/ngày có tỷ lệ triệu chứng lo âu 71,6%, cao hơn nhóm làm việc ≤ 8 giờ/ngày (37,5%); OR thô = 4,21 (KTC 95%: 1,34–13,23), p = 0,018. Các yếu tố giới tính, tuổi và cảm nhận khối lượng công việc chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong phân tích đơn biến.

Kết luận: Tỷ lệ triệu chứng lo âu, trầm cảm và căng thẳng tự báo cáo theo DASS-21 ở nhóm điều dưỡng được khảo sát tương đối cao. Mối liên quan giữa làm việc trên 8 giờ/ngày và triệu chứng lo âu chỉ mang tính thăm dò, cần được kiểm chứng bằng nghiên cứu có cỡ mẫu lớn hơn và phân tích đa biến.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Bùi Thị Hiền, Nguyễn Thị Hoa Huyền, Hoàng Ngọc Khánh. Thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng và các yếu tố liên quan của điều dưỡng thuộc chuỗi Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec năm 2022. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108. 2024;19(1):117-122. Google Scholar
[2]
[2] Tran TTT, Nguyen NB, Luong MA, et al. Stress, anxiety and depression in clinical nurses in Vietnam: a cross-sectional survey and cluster analysis. Int J Ment Health Syst. 2019;13:3. doi:10.1186/s13033-018-0257-4. Google Scholar
[3]
[3] Tran TD, Tran T, Fisher J. Validation of the Depression Anxiety Stress Scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women. BMC Psychiatry. 2013;13:24. doi:10.1186/1471-244X-13-24. Google Scholar
[4]
[4] Nguyễn Thị Thanh Trúc, Ngô Thị Dung, Lê Thị Kim Chi, Nguyễn Hồng Thiệp, Nguyễn Thị Ngọc Hân. Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm ở điều dưỡng. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 2023;167(6):335-342. doi:10.52852/tcncyh.v167i6.1707. Google Scholar
[5]
[5] Nguyễn Bạch Ngọc, Vũ Mai Lan, Nguyễn Thị Kim Phụng và cộng sự. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm và lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108. 2019;14(6):108-116. Google Scholar
[6]
[6] Rasool G, Tareen Z. Stress anxiety and depression level amongst nurses working at tertiary care hospital. Int J Health Sci. 2022;6(S9):4700-4706. Google Scholar
[7]
[7] Zaitouni M, Hewapathirana G, Mostafa M, Al Hajj R, ElMelegy AR. Work-life balance: A landscape mapping of two decades of scholarly research. Heliyon. 2024;10(14):e34084. doi:10.1016/j.heliyon.2024.e34084. Google Scholar
[8]
[8] World Health Organization. WHO guidelines on mental health at work. Geneva: World Health Organization; 2022. Google Scholar