Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

VẠT DA TRÁN CÓ CUỐNG MẠCH TRÊN RÒNG RỌC, VẠT NIÊM MẠC VÁCH NGĂN CÓ CUỐNG KẾT HỢP SỤN SƯỜN TỰ THÂN TRONG TẠO HÌNH MŨI BIẾN DẠNG: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Hoàng Nguyễn Bảo Tâm, Ngô Văn Công
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6690
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tổng quan y văn về nguyên lý tái tạo ba lớp trong biến dạng và khuyết hổng mũi nặng, với ba nguồn mô thường dùng là vạt da trán cuống động mạch trên ròng rọc cho lớp che phủ, vạt niêm mạc màng sụn vách ngăn có cuống cho lớp lót và ghép sụn sườn tự thân cho khung đỡ.

Nội dung: Bài viết trình bày cơ sở giải phẫu và vai trò của từng lớp tái tạo, đối chiếu kết quả đã công bố của từng kỹ thuật trong và ngoài nước, và điểm lại các kỹ thuật một thì mới xuất hiện. Tài liệu được tra cứu trên PubMed/MEDLINE và Google Scholar bằng tiếng Anh và tiếng Việt, giai đoạn 2000 đến 2025.

Nhận định: Vạt da trán là lựa chọn tiêu chuẩn cho lớp che phủ, với dữ liệu trong nước ghi nhận vạt sống hoàn toàn 89,6% trên 48 ca tổn khuyết phần mềm mũi. Vạt niêm mạc màng sụn vách ngăn cung cấp lớp lót có mạch nuôi, cơ sở để mảnh ghép sụn không bị co kéo, lộ hay tiêu. Sụn sườn tự thân cho lượng sụn dồi dào để dựng khung. Loạt ca dùng đủ ba lớp có vạt vách ngăn hiện mới ở quy mô 6 bệnh nhân, theo dõi trung bình 11,5 tháng. Các kỹ thuật một thì công bố năm 2024 và 2025 lấy lớp lót từ chính vạt trán nên là chiến lược thay thế, chưa có theo dõi dài hạn.

Kết luận: Tái tạo đủ ba lớp có cơ sở giải phẫu và sinh lý vững, nhưng dữ liệu lâm sàng về phối hợp đồng bộ đúng ba kỹ thuật còn rất ít và chủ yếu là loạt ca cỡ nhỏ, thiếu công cụ đo kết cục thống nhất. Cần nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dài hạn, đặc biệt trên biến dạng không do ung thư và trên người Việt Nam.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Thornton JF, Griffin JR, Constantine FC. Nasal reconstruction: an overview and nuances. Semin Plast Surg. 2008;22(4):257-268. doi:10.1055/s-0028-1095885 Google Scholar
[2]
[2] Menick FJ. A 10-year experience in nasal reconstruction with the three-stage forehead flap. Plast Reconstr Surg. 2002;109(6):1839-1855. doi:10.1097/00006534-200205000-00010 Google Scholar
[3]
[3] Li Q, Weng R, Gu B, et al. Anchor-shaped nasal framework designed for total nasal reconstruction. J Plast Reconstr Aesthet Surg. 2010;63(6):954-962. doi:10.1016/j.bjps.2009.05.020 Google Scholar
[4]
[4] Karagiannis P, Clark JR, Ch’ng S. The inside-out septal mucoperichondrial flap: reconstruction of nasal lining simplified. Plast Reconstr Surg. 2017;140(4):644e-645e. doi:10.1097/PRS.0000000000003718 Google Scholar
[5]
[5] Nakajima Y, Iwasawa M, Mishima Y. Subtotal nasal reconstruction in a 91-year-old patient: expanded double forehead flaps and costal cartilage. Plast Reconstr Surg Glob Open. 2021;9(10):e3868. doi:10.1097/GOX.0000000000003868 Google Scholar
[6]
[6] Brambullo T, Franchi A, Masciopinto G, et al. Case report: a new variant of the forehead flap for subtotal nose reconstruction in a single stage: the dragonfly flap. Front Surg. 2024;11:1420673. doi:10.3389/fsurg.2024.1420673 Google Scholar
[7]
[7] Correa T, Katrib ZA, Owen SR. Trifold flap for total/subtotal nasal reconstruction. Facial Plast Surg Aesthet Med. 2025;27(2):169-173. doi:10.1089/fpsam.2024.0089 Google Scholar
[8]
[8] Mạnh NT, Lâm VN, Tuấn L Đức, HảiLTT. Đánh giá kết quả sử dụng các vạt da trán có cuống mạch nuôi trong điều trị tổn khuyết phần mềm mũi. YDLS [Internet]. 26 Tháng Giêng 2022 [cited 4 Tháng Tám 2026];17(1). Available at: https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/1061 Google Scholar
[9]
[9] Vĩnh LH, Hùng Đỗ Q, Vinh PTH, Hoa TTX, Hưng NQ. Đánh giá kết quả tạo hình thẩm mỹ mũi bằng sụn sườn tự thân toàn bộ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. YDLS [Internet]. 26 Tháng Tư 2023 [cited 4 Tháng Tám 2026];18(4). Available at: https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/1859 Google Scholar
[10]
[10] Park JH, Jin HR. Use of autologous costal cartilage in Asian rhinoplasty. Plast Reconstr Surg. 2012;130(6):1338-1348. doi:10.1097/PRS.0b013e31826d9f13 Google Scholar