Mục tiêu: (1) Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm phổi ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa; (2) Mối liên quan giữa đái tháo đường type 2 và mức độ nặng của viêm phổi ở nhóm đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 78 bệnh nhân mắc đái tháo đường type 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện Nội tiết Thanh Hóa từ 1/4/2023 đến 25/9/2023.
Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 69,04 ± 11,05 tuổi. Lý do vào viện: khó thở (47,4%), sốt (48,7%), ho đờm (34,6%). Triệu chứng lâm sàng: ho đờm (64%), khó thở (64%), sốt (66,7%), mệt mỏi (44%), đau ngực (34,7%); ran nổ (77,3%), ran ẩm (25,3%). X quang ngực: 53,8% nhóm CURB-65 (2-5 điểm) tổn thương nhiều thùy. Tỷ lệ bạch cầu trung tính ở nhóm CURB-65 (2-5 điểm) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm CURB-65 (0-1 điểm). Thời gian nằm viện trung bình là 13,41 ± 7,5 ngày. Kết quả điều trị: 83,3% bệnh nhân bệnh khỏi/đỡ; 16,7% bệnh nhân bệnh nặng xin về hoặc chuyển tuyến. Giá trị HbA1c khi vào viện ở nhóm CURB-65 (2-5 điểm) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm CURB-65 (0-1 điểm).
Kết luận: Bệnh nhân đái tháo đường type 2 có tình trạng kiểm soát đường huyết kém, biểu hiện qua HbA1c tăng cao, có nguy cơ viêm phổi nặng hơn. Giá trị HbA1c cao có liên quan đến mức độ nặng của viêm phổi theo thang điểm CURB-65.