Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ SỚM SAU KHÂU VÒNG CỔ TỬ CUNG DỰ PHÒNG SINH NON Ở SẢN PHỤ NGUY CƠ CAO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Nguyễn Thị Mỹ Trúc, Phan Hữu Thúy Nga, Vũ Đăng Khoa, Lâm Thanh Quang
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6659
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả khâu vòng cổ tử cung dự phòng sinh non ở sản phụ có nguy cơ cao tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2024 - 2026

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trên 36 sản phụ có chỉ định khâu vòng cổ tử cung dự phòng sinh non tại Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ năm 2024 - 2026

Kết quả: Tuổi thai khi khâu vòng cổ tử cung tập trung chủ yếu ở nhóm 15–19 tuần với 52,8%, tiếp theo là nhóm 12–14 tuần với 41,7%. Tỷ lệ khâu vòng sau 20 tuần thấp, chiếm 5,6%. Sau khâu vòng, 100% sản phụ không xảy ra chuyển dạ. Tuy nhiên, 97,2% có triệu chứng sau thủ thuật, trong đó đau bụng dưới là triệu chứng thường gặp nhất. Thời gian nằm viện dưới 3 ngày chiếm 66,7% và thời gian nằm viện trung bình sau khâu vòng là 3 ± 1 ngày.

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy khâu vòng cổ tử cung dự phòng chủ yếu được thực hiện trước 20 tuần tuổi thai. Trong thời gian theo dõi sớm sau thủ thuật, không ghi nhận trường hợp chuyển dạ hay biến chứng nghiêm trọng, cho thấy khâu vòng cổ tử cung có tính an toàn ngắn hạn ở sản phụ nguy cơ cao khi được chỉ định và theo dõi phù hợp.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] World Health Organization. Preterm birth. 2023. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/preterm-birth Google Scholar
[2]
[2] Shennan A, Story L, Jacobsson B, Grobman WA. FIGO good practice recommendations on cervical cerclage for prevention of preterm birth. International journal of gynaecology and obstetrics: the official organ of the International Federation of Gynaecology and Obstetrics. 2021;155(1):19-22. doi:10.1002/ijgo.13835. Google Scholar
[3]
[3] Shennan AH, Story L. Cervical Cerclage: Green-top Guideline No. 75. BJOG : an international journal of obstetrics and gynaecology. 2022;129(7):1178-1210. doi:10.1111/1471-0528.17003. Google Scholar
[4]
[4] Berghella V, Rafael TJ, Szychowski JM, Rust OA, Owen J. Cerclage for short cervix on ultrasonography in women with singleton gestations and previous preterm birth: a meta-analysis. Obstetrics and gynecology. 2011;117(3):663-71. doi:10.1097/AOG.0b013e31820ca847. Google Scholar
[5]
[5] Liu Y, Ke Z, Liao W, Chen H, Wei S, Lai X, et al. Pregnancy outcomes and superiorities of prophylactic cervical cerclage and therapeutic cervical cerclage in cervical insufficiency pregnant women. Archives of gynecology and obstetrics. 2018;297(6):1503-8. doi:10.1007/s00404-018-4766-9. Google Scholar
[6]
[6] Tăng Xuân Hải, Trần Minh Long, Nguyễn Xuân Chung. Đánh giá kết quả khâu vòng cổ tử cung trong điều trị dự phòng sẩy thai và sinh non tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2023;64(2). doi:10.52163/yhc.v64i2.605. Google Scholar
[7]
[7] American College of Obstetricians and Gynecologists. ACOG Practice Bulletin No.142: Cerclage for the management of cervical insufficiency. Obstetrics and gynecology. 2014;123(2 Pt 1):372-9. doi:10.1097/01.AOG.0000443276.68274.cc. Google Scholar
[8]
[8] American College of Obstetricians and Gynecologists. Practice Bulletin No. 171: Management of Preterm Labor. Obstetrics & Gynecology. 2016;128(4). doi:10.1097/AOG.0000000000001711. Google Scholar