Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

HIỆU QUẢ VÀ ĐỘ AN TOÀN CỦA DUNG DỊCH BÔI LAHA ACNE PHỐI HỢP ISOTRETINOIN ĐƯỜNG UỐNG TRONG ĐIỀU TRỊ TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG MỨC ĐỘ VỪA: MỘT THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG NGẪU NHIÊN CÓ ĐỐI CHỨNG

Lã Thanh Hà
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6644
4 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của dung dịch bôi Laha acne phối hợp isotretinoin đường uống trong điều trị trứng cá thông thường mức độ vừa.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu gồm hai giai đoạn. Giai đoạn tiền lâm sàng đánh giá kích ứng da của dung dịch nghiên cứu trên 03 thỏ trắng đực chủng New Zealand White. Giai đoạn lâm sàng là thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 70 bệnh nhân trứng cá thông thường mức độ vừa, được lựa chọn từ 324 bệnh nhân được chẩn đoán trứng cá thông thường. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm thành 2 nhóm, mỗi nhóm 35 trường hợp. Nhóm nghiên cứu được điều trị bằng dung dịch Laha acne bôi 2 lần/ngày kết hợp isotretinoin uống liều 0,3–0,5 mg/kg/ngày. Nhóm đối chứng được điều trị bằng erythromycin gel 4% bôi 2 lần/ngày kết hợp isotretinoin uống liều 0,3–0,5 mg/kg/ngày. Thời gian điều trị là 2 tháng.

Kết quả: Trên thỏ thực nghiệm, dung dịch nghiên cứu gây ban đỏ rất nhẹ, không gây phù nề, với chỉ số kích ứng da 0,33, tương ứng mức kích ứng không đáng kể. Sau 2 tháng điều trị, tỷ lệ đáp ứng tốt và khá ở nhóm nghiên cứu lần lượt là 25,7% và 73,3%, cao hơn nhóm đối chứng (2,9% và 62,9%); nhóm nghiên cứu không còn trường hợp đáp ứng trung bình, trong khi nhóm đối chứng còn 34,3% (p < 0,05). Tỷ lệ người bệnh rất hài lòng ở nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm đối chứng (62,8% so với 31,5%; p < 0,05).

Kết luận: Dung dịch bôi Laha acne phối hợp isotretinoin đường uống cho hiệu quả điều trị tốt hơn so với erythromycin gel 4% phối hợp isotretinoin ở bệnh nhân trứng cá thông thường mức độ vừa, với độ dung nạp tại chỗ tốt và khả năng kích ứng da thấp.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Zhu Z, Zhong X, Luo Z, Liu M, Zhang H, Zheng H, Li J. Global, regional and national burdens of acne vulgaris in adolescents and young adults aged 10–24 years from 1990 to 2021: a trend analysis. Br J Dermatol. 2025;192(2):228–237. doi:10.1093/bjd/ljae352 Google Scholar
[2]
2. Eichenfield DZ, Sprague J, Eichenfield LF. Management of acne vulgaris: a review. JAMA. 2021;326(20):2055–2067. doi:10.1001/jama.2021.17633 Google Scholar
[3]
3. Fallah H, Rademaker M. Isotretinoin in the management of acne vulgaris: practical prescribing. Int J Dermatol. 2021;60(4):451–460. doi:10.1111/ijd.15089 Google Scholar
[4]
4. Đỗ Thị Mùi. Đánh giá tác dụng bột đắp Kim ngân hoa trong điều trị trứng cá thông thường [Luận văn Thạc sĩ]. Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam; 2016. Google Scholar
[5]
5. Phan Thị Hoa. Nghiên cứu độc tính và hiệu quả của dịch chiết từ rễ cây Ba Bét Lùn (Mallotus nanus Airy Shaw) điều trị bệnh trứng cá thông thường [Luận án Tiến sĩ Y học cổ truyền]. Đại học Y Hà Nội; 2016. Google Scholar
[6]
6. Orafidiya LO, Agbani EO, Oyedele AO, et al. The effect of Aloe vera gel on the anti-acne properties of the essential oil of Ocimum gratissimum Linn leaf: a preliminary clinical investigation. Int J Aromatherapy. 2004;14(1):15–21. Google Scholar
[7]
7. OECD. Test No. 404: Acute Dermal Irritation/Corrosion. OECD Guidelines for the Testing of Chemicals, Section 4. Paris: OECD Publishing; 2015. Google Scholar
[8]
8. ICH. M3(R2): Guidance on Nonclinical Safety Studies for the Conduct of Human Clinical Trials and Marketing Authorization for Pharmaceuticals. International Council for Harmonisation; 2009. Google Scholar
[9]
9. McCoy K. Acne and related disorders. Merck Manual; 2008. Available from: www.merckmanuals.com Google Scholar
[10]
10. Beig M, Shirazi O, Ebrahimi E, Zare Banadkouki A, Golab N, Sholeh M. Prevalence of antibiotic-resistant Cutibacterium acnes (formerly Propionibacterium acnes) isolates, a systematic review and meta-analysis. J Glob Antimicrob Resist. 2024;39:82–91. Google Scholar