Mục tiêu: Đánh giá diện tích mô mỡ, mô cơ vùng bụng trên cắt lớp vi tính đa dãy ở người trên 18 tuổi có bệnh lý cấp tính.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 170 bệnh nhân trên 18 tuổi đi khám tại BVQY 103 từ tháng 6/2025- 5/2026 có bệnh lý cấp tính. Tất cả bệnh nhân đều được chỉ định chụp cắt lớp vi tính đa dãy ổ bụng có tiêm thuốc hoặc không tiêm thuốc. Diện tích mô mỡ, mô cơ được đo qua lát cắt ngang qua đốt sống thắt lưng L3 ở phim chụp thì không tiêm thuốc trên phần mềm Coreslicer theo ngưỡng Hounsfield chuẩn quốc tế.
Kết quả: Tuổi của bệnh nhân nghiên cứu từ 22-89 tuổi (trung bình 46,7), trong đó có 138 bệnh nhân nam và 32 bệnh nhân nữ, BMI trung bình 23,76 ± 3,20 kg/m². SAT, SATI và TATI cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nữ so với nam (158,49 ± 50,93 và 106,02 ± 50,22 cm² p = 0,001; 65,62 ± 21,63 và 38,14 ± 17,88 cm² p < 0,001; 119,43 ± 31,75 và 88,28 ± 37,18 p < 0,001). Ngược lại, tỷ số VAT/SAT cao hơn có ý nghĩa ở nam (1,40 ± 0,54 vs 0,864 ± 0,27; p < 0,001), phản ánh xu hướng phân bố mỡ tạng ưu thế ở nam giới. Diện tích VAT, VATI và TAT không khác biệt có ý nghĩa giữa hai giới (p > 0,05). Trong khi đó, với mô cơ SMA và SMI cao hơn có ý nghĩa ở nam so với nữ (149,18 ± 27,28 và 101,69 ± 10,46 cm² p<0.001 ; 53,70 ± 8,91 và 42,09 ± 4,59; p = 0,001).
Kết luận: Cắt lớp vi tính đa dãy cho phép định lượng khách quan diện tích mô cơ và các khoang mô mỡ tại L3. Nam giới có khối cơ và tỷ số VAT/SAT cao hơn, nữ giới có mô mỡ dưới da và mỡ toàn ổ bụng cao hơn – phản ánh đặc điểm phân bố mỡ theo giới ở bệnh nhân có bệnh lý cấp tính.