Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

SO SÁNH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ CỦA GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG BẰNG BUPIVACAIN 0,0625% VỚI BUPIVACAIN 0,1% PHỐI HỢP VỚI FENTANYL 1MCG/ML

Nguyễn Văn Hảo, Lâm Văn Sáu, Phạm Thị Lan, Nguyễn Đăng Đức
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6623
2 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: So sánh hiệu quả giảm đau và một số tác dụng không mong muốn của gây tê ngoài màng cứng bằng bupivacain 0,0625% và bupivacain 0,1% phối hợp fentanyl 1mcg/ml trong chuyển dạ đẻ.

Đối tượng và phương pháp: 60 sản phụ có chỉ định đẻ thường được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm (n=30) : Nhóm 1 dùng bupivacain 0,0625% phối hợp fentanyl 1mcg/ml; Nhóm 2 dùng bupivacain 0,1% phối hợp fentanyl 1mcg/ml. Cả hai nhóm đều được bolus 10ml, sau đó duy trì truyền liên tục 8ml/h.

Kết quả: Cả hai phác đồ đều duy trì điểm VAS < 3 điểm và ổn định trong suốt cuộc chuyển dạ. Nhóm 1 có thời gian khởi tê dài hơn nhóm 2 (12,1 ± 3,2 phút so với 9,7 ± 2,5 phút, p < 0,05). Tuy nhiên, nhóm 1 ưu việt hơn về bảo tồn vận động với 100% sản phụ đạt Bromage 0, trong khi nhóm 2 có 23,33% bị yếu cơ (Bromage 1) (p < 0,05). Khả năng rặn đẻ ở nhóm 1 đạt mức "tốt" 100%, cao hơn đáng kể so với nhóm 2 (66,67%, p < 0,05). Chỉ số Apgar trẻ sơ sinh giữa hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Phác đồ bupivacain 0,0625% mang lại hiệu quả giảm đau tương đương nồng độ 0,1% nhưng giúp hạn chế tình trạng phong bế vận động và bảo tồn tốt hơn khả năng rặn đẻ của sản phụ, đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] J. A. Nanji and B. Carvalho, “Pain management during labor and vaginal birth,” Best Pract. Res. Clin. Obstet. Gynaecol., vol. 67, pp. 100–112, Aug. 2020, doi: 10.1016/j.bpobgyn.2020.03.002. Google Scholar
[2]
[2] T. N. Chethanananda, M. R. Shashank, N. Madhu, J. Achyutha, and K. V. Siva Kumar, “Comparative Efficacy of Minimal Concentration of Racemic Bupivacaine (0.0625%) with Fentanyl and Ropivacaine (0.1%) with Fentanyl for Epidural Labor Analgesia,” Anesth. Essays Res., vol. 11, no. 3, pp. 583–588, 2017, doi: 10.4103/aer.AER_63_17. Google Scholar
[3]
[3] C. Mounika, G. Sujitha, and M. P, “A Comparative Study of 0.0625% Bupivacaine-Fentanyl With 0.1% Ropivacaine-Fentanyl for Labor Epidural Analgesia,” Cureus, vol. 17, no. 4, p. e82681, Apr. 2025, doi: 10.7759/cureus.82681. Google Scholar
[4]
[4] Nguyễn Đức Lam, “So sánh tác dụng không mong muốn của gây tê ngoài màng cứng bằng hỗn hợp ropivacain-fentanyl với bupivacain-fentanyl để giảm đau trong chuyển dạ đẻ,” J. 108-Clin. Med. Phamarcy, vol. 13, no. 4, pp 80-86, 2018, Accessed: Feb. 26, 2026. [Online]. Available: https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/412 Google Scholar
[5]
[5] Đỗ Văn Lợi, “Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp gây tê ngoài màng cứng do và không do bệnh nhân tự điều khiển,” PhD Thesis, 2017. Accessed: Feb. 26, 2026. [Online]. Available: http://dulieuso.hmu.edu.vn/handle/hmu/1654 Google Scholar
[6]
[6] V. Baliuliene, A. Macas, and K. Rimaitis, “The optimal concentration of bupivacaine and levobupivacaine for labor pain management using patient-controlled epidural analgesia: a double-blind, randomized controlled trial,” Int. J. Obstet. Anesth., vol. 35, pp. 17–25, Aug. 2018, doi: 10.1016/j.ijoa.2018.05.002. Google Scholar
[7]
[7] Trịnh Thị Hằng and Đức Lam Nguyễn , Duy Hưng Trịnh, Thị Thanh Huyền Phạm, “So sánh hiệu quả giảm đau của phương pháp truyền thuốc tê liên tục với phương pháp tiêm ngắt quãng tự động các liều thuốc tê khi gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong chuyển dạ.” Tạp chí Y học Việt Nam, 518(1). Mar. 14, 2026. doi: 10.51298/vmj.v518i1.3349. Google Scholar