Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

NGUY CƠ TIM MẠCH Ở NGƯỜI BỆNH GÚT NGUYÊN PHÁT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NAM ĐỊNH NĂM 2025–2026

Phạm Thị Thoa, Nguyễn Vĩnh Ngọc, Lê Thị Liễu, Phùng Đức Tâm, Ngô Thị Thục Nhàn, Đặng Thị Ngọc Cúc
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6615
2 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả phân tầng nguy cơ tim mạch theo SCORE-VN và khảo sát mối liên quan của một số đặc điểm không phải là biến đầu vào trực tiếp của SCORE-VN với nhóm nguy cơ cao–rất cao ở nam người bệnh gút nguyên phát điều trị nội trú. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 135 nam người bệnh 40–69 tuổi, được chẩn đoán gút nguyên phát theo tiêu chuẩn ACR/EULAR 2015 và điều trị nội trú tại Khoa Nội tổng hợp–Cơ xương khớp, Bệnh viện Đa khoa Nam Định từ tháng 8/2025 đến tháng 8/2026. SCORE-VN được tính từ tuổi, giới, hút thuốc lá, huyết áp tâm thu, cholesterol toàn phần và HDL-C. Hồi quy logistic báo cáo OR/aOR và KTC 95%; OR không được diễn giải là nguy cơ tương đối. Kết quả: Điểm SCORE-VN trung bình là 11,01 ± 7,67%; 77,04% thuộc nhóm nguy cơ cao–rất cao, trong đó 53,33% rất cao. Các đặc điểm thường gặp gồm lạm dụng rượu/bia 89,63%, rối loạn lipid máu 82,96%, tăng huyết áp 59,26%, hút thuốc lá 56,30%, gút mạn 81,48%, có hạt tophi 79,26% và có ≥2 đợt gút cấp/năm 85,19%. Trong mô hình gồm đồng thời sáu yếu tố ngoài các biến cấu thành SCORE-VN, thời gian mắc gút ≥5 năm (aOR=9,66; KTC 95%: 2,91–32,10; p<0,001), có hạt tophi (aOR=3,92; KTC 95%: 1,09–14,09; p=0,036) và ≥2 đợt gút cấp/năm (aOR=13,46; KTC 95%: 3,33–54,41; p<0,001) liên quan với nhóm nguy cơ cao–rất cao. Kết luận: Trong mẫu nam người bệnh gút nguyên phát nội trú được chọn lọc, tỷ lệ nguy cơ tim mạch cao–rất cao theo SCORE-VN lớn. Thời gian mắc bệnh, hạt tophi và số đợt gút cấp có mối liên quan thống kê sau hiệu chỉnh đồng thời các yếu tố trong mô hình; thiết kế cắt ngang không cho phép suy luận nhân quả hoặc giá trị dự báo biến cố.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Ferguson LD, Molenberghs G, Verbeke G, et al. Gout and incidence of 12 cardiovascular diseases: a case-control study. Lancet Rheumatol. 2024;6(3):e156–e167. Google Scholar
[2]
2. Pei H, He L, Wang S, et al. Association between gout and cardiovascular disease: a register-based cohort study. Prog Cardiovasc Dis. 2026. doi:10.1016/j.pcad.2026.02.003. Google Scholar
[3]
3. Cox P, Gupta S, Zhao S, Hughes D. The incidence and prevalence of cardiovascular diseases in gout: a systematic review and meta-analysis. Rheumatol Int. 2021;41:1209–1219. Google Scholar
[4]
4. Cipolletta E, Tata LJ, Nakafero G, et al. Association between gout flares and subsequent cardiovascular events. JAMA. 2022;328(5):440–450. Google Scholar
[5]
5. Ghang B, Kim J, Kang T, Kim HJ. Ten-year cardiovascular risk changes and major adverse events in gout patients. Rheumatology. 2025. doi:10.1093/rheumatology/keaf322. Google Scholar
[6]
6. López-González R, et al. Cardiovascular risk assessment in patients with gout using SCORE2. Reumatol Clin. 2022;18(8):450–456. Google Scholar
[7]
7. Neogi T, Jansen TL, Dalbeth N, et al. 2015 gout classification criteria: an ACR/EULAR collaborative initiative. Ann Rheum Dis. 2015;74(10):1789–1798. Google Scholar
[8]
8. Bộ Y tế. Quyết định số 5333/QĐ-BYT ngày 25/11/2021 ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch. Hà Nội; 2021. Google Scholar
[9]
9. Hội Tim mạch học Việt Nam. Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp. Nhà xuất bản Y học; 2022. Google Scholar
[10]
10. National Cholesterol Education Program Expert Panel. Third Report (NCEP-ATP III) Final Report. Circulation. 2002;106(25):3143–3421. Google Scholar
[11]
11. WHO Expert Consultation. Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies. Lancet. 2004;363(9403):157–163. Google Scholar
[12]
12. Hội Tim mạch học Việt Nam và Hội Tim mạch Can thiệp Việt Nam. Công cụ đánh giá nguy cơ tim mạch SCORE-VN. Hà Nội; 2021. Google Scholar
[13]
13. Nguyễn Lê Phương Thảo, Nguyễn Vĩnh Ngọc, Lê Thị Liễu, và cs. Khảo sát nguy cơ tim mạch trong 10 năm theo thang điểm ASCVD ở bệnh nhân gút. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;557(2). doi:10.51298/vmj.v557i2.16684. Google Scholar
[14]
14. Andrés M, Quintanilla MA, Sivera F, et al. Silent monosodium urate crystal deposits are associated with severe coronary calcification. Arthritis Rheumatol. 2016;68(6):1531–1539. Google Scholar