Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

ĐẶC ĐIỂM MÔ BỆNH HỌC U BIỂU MÔ TUYẾN NƯỚC BỌT TẠI BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU

Trịnh Thị Biên, Tạ Văn Tờ
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6612
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm mô bệnh học u biểu mô tuyến nước bọt theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2022 và đối chiếu sự phân bố các típ mô học với vị trí giải phẫu. Đối tượng và phương pháp: 602 bệnh nhân được chẩn đoán u biểu mô tuyến nước bọt tại Bệnh viện K cơ sở Tân Triều từ tháng 01/2022 đến tháng 01/2026. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 49 ± 16,4 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,1. U lành tính chiếm ưu thế với tỷ lệ 76,7%, trong đó u tuyến đa hình là típ mô học thường gặp nhất (59,5%). Trong nhóm u ác tính, ung thư biểu mô dạng biểu bì nhầy chiếm tỷ lệ cao nhất (34,3%), tiếp theo là ung thư biểu mô dạng tuyến nang. Phần lớn các khối u xuất hiện tại các tuyến nước bọt chính, đặc biệt là tuyến mang tai (67,3%). Có sự khác biệt về tỷ lệ u lành tính và ác tính theo vị trí giải phẫu, với tỷ lệ u ác tính cao nhất ở tuyến dưới lưỡi, tiếp theo là tuyến nước bọt phụ (p<0,05). U Warthin hầu như chỉ gặp ở tuyến mang tai, trong khi ung thư biểu mô dạng tuyến nang là típ mô học ác tính chiếm ưu thế tại tuyến nước bọt phụ và tuyến dưới lưỡi. Kết luận: Kết quả nghiên cứu phù hợp với nhiều báo cáo trong và ngoài nước, góp phần bổ sung dữ liệu về đặc điểm mô bệnh học và hỗ trợ chẩn đoán, điều trị, tiên lượng u tuyến nước bọt.
Tài liệu tham khảo
[1]
1. Cunha JL, Coimbra AC, Silva JV, Nascimento IS, Andrade ME, Oliveira CR, et al. Epidemiologic analysis of salivary gland tumors over a 10-years period diagnosed in a northeast Brazilian population. Med Oral Patol Oral Cir Bucal. 2020 Jul 1;25(4):e516–22. doi:10.4317/medoral.23532 PubMed PMID: 32388524; PubMed Central PMCID: PMC7338061. Google Scholar
[2]
2. dos Santos ES, Rodrigues-Fernandes CI, Speight PM, Khurram SA, Et. A. Impact of tumor site on the prognosis of salivary gland neoplasms: A systematic review and meta-analysis. Critical Reviews in Oncology/Hematology. 2021. doi:10.1016/j.critrevonc.2021.103352 Google Scholar
[3]
3. Alsanie I, Rajab S, Cottom H, Adegun O, Agarwal R, Jay A, et al. Distribution and Frequency of Salivary Gland Tumours: An International Multicenter Study. Head Neck Pathol. 2022 May 27;16(4):1043–54. doi:10.1007/s12105-022-01459-0 PubMed PMID: 35622296; PubMed Central PMCID: PMC9729635. Google Scholar
[4]
4. Đinh Thị Huyền Trang. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh của u tuyến nước bọt [luận văn thạc sĩ y học]. [Hà Nội]: Trường Đại học Y Hà Nội; 2014. Google Scholar
[5]
5. Wang YL, Zhu YX, Chen TZ, Wang Y, Sun GH, Zhang L, et al. Clinicopathologic study of 1176 salivary gland tumors in a Chinese population: Experience of one cancer center 1997–2007. Acta Oto-Laryngologica. 2012 Aug 1;132(8):879–86. doi:10.3109/00016489.2012.662715 PubMed PMID: 22497626. Google Scholar
[6]
6. Lukšić I, Virag M, Manojlović S, Macan D. Salivary gland tumours: 25 years of experience from a single institution in Croatia. Journal of Cranio-Maxillofacial Surgery. 2012 Apr 1;40(3):e75–81. doi:10.1016/j.jcms.2011.05.002 Google Scholar