Bài báo khoa học Tập 67 Số 9 25/09/2026

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ GHÉP DA TỰ THÂN TRONG ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG MẤT DA VÀ BỎNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ NĂM 2023-2024

Nguyễn Hoàng An, Nguyễn Trọng Nhân
DOI: 10.52163/yhc.v67i9.6605
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả ghép da tự thân trong điều trị vết thương mất da và bỏng tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trong giai đoạn 2023–2024. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu loạt ca bệnh được thực hiện trên 69 người bệnh bị vết thương mất da hoặc bỏng, có chỉ định ghép da tự thân thông qua hồ sơ bệnh án tại Khoa Bỏng, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2024. Kết quả: Người bệnh chủ yếu là nam giới (58,0%) khoảng 40-60 tuổi (50,7%). Nguyên nhân tổn thương thường gặp nhất là biến chứng đái tháo đường (37,7%). Tổn thương tập trung chủ yếu ở chi dưới, đặc biệt cẳng chân và bàn chân (mỗi vị trí 24,6%). Diện tích tổn thương chủ yếu từ 1-5% diện tích cơ thể (94,2%). Có 97,1% người bệnh chỉ cần ghép da một lần. Sau ghép 48-72 giờ, mức độ nề giảm rõ; tỷ lệ người bệnh có nề ít tăng từ 27,5% trước mổ lên 75,4% sau mổ. Mức độ che phủ vết thương đạt 96-100% ở 94,2% trường hợp. Tất cả người bệnh đều có tiến triển tốt, ghép dính, không ghi nhận sẹo xấu, chuyển tuyến hay tử vong. Thời gian nằm viện trung bình sau ghép là 12 ± 3,58 ngày. Kết luận: Ghép da tự thân cho kết quả điều trị sớm thuận lợi ở người bệnh, với tỷ lệ che phủ cao và tiến triển tốt sau ghép, kết quả sớm và thuận lợi cho người bệnh bị vết thương mất da và bỏng.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1]. Vũ Đồng Hoàng Hạnh, Nguyễn Thế May, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Trọng Đức. Kết quả điều trị khuyết tổ chức phần mềm bằng ghép da dày toàn lớp lấy từ nếp lằn bẹn tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp. Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng. 2024(1):25-9. https://doi.org/10.54804/yhthvb.1.2024.256. Google Scholar
[2]
[2]. Trịnh Văn Thông. Tình hình thu dung và điều trị nội trú bệnh nhân bỏng tại Khoa Bỏng, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An trong 2 năm 2021 - 2022. Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng. 2024(1):18-24. https://doi.org/10.54804/yhthvb.1.2024.303. Google Scholar
[3]
[3]. Nguyễn Dương Phi, Phan Anh Vũ, Lý Khoa Nam, Nguyễn Thụy Anh Thư, Nguyễn Hồng Nhân. Đánh giá kết quả phẫu thuật ghép da tự thân điều trị vết thương mất da và bỏng sâu ổ trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;534(1B). https://doi.org/10.51298/vmj.v534i1B.8304. Google Scholar
[4]
[4]. Đào Văn Hiếu, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Huy Phương, Trần Tuấn Anh. Vá da mỏng tự thân điều trị khuyết hổng phần mềm chi dưới do chấn thương tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Tạp chí Y học Dự phòng. 2024;34(6):121-7. https://doi.org/10.51403/0868-2836/2024/1930. Google Scholar
[5]
[5]. Wen YZ, Zhang PH, Ren LC, Zhang MH, Zeng JZ, Zhou J, et al. Clinical characteristics and repair effect of 136 patients with electric burns of upper limb. Zhonghua Shao Shang Za Zhi. 2019;35(11):784-9. https://doi.org/10.3760/cma.j.issn.1009-2587.2019.11.004. Google Scholar
[6]
[6]. Mai Xuân Thảo, Ngô Minh Đức, Chu Anh Tuấn, Lê Quốc Chiểu. Đặc điểm bỏng người lớn và thách thức trong điều trị. Tạp chí Y học Thảm hoạ và Bỏng. 2021(4):19-29. https://doi.org/10.54804/yhthvb.4.2021.47. Google Scholar
[7]
[7]. Lip HTC, Idris MAM, Imran F-H, Azmah TN, Huei TJ, Thomas M. Predictors of mortality and validation of burn mortality prognostic scores in a Malaysian burns intensive care unit. BMC Emergency Medicine. 2019;19(1):66. https://doi.org/10.1186/s12873-019-0284-8. Google Scholar
[8]
[8]. Kenny EM, Lagziel T, Hultman CS, Egro FM. Skin Substitutes and Autograft Techniques: Temporary and Permanent Coverage Solutions. Clin Plast Surg. 2024;51(2):241-54. https://doi.org/10.1016/j.cps.2023.12.001. Google Scholar
[9]
[9]. Serra R, Rizzuto A, Rossi A, Perri P, Barbetta A, Abdalla K, et al. Skin grafting for the treatment of chronic leg ulcers - a systematic review in evidence-based medicine. Int Wound J. 2017;14(1):149-57. https://doi.org/10.1111/iwj.12575. Google Scholar