Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 17/09/2026

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG VIÊM TĨNH MẠCH LIÊN QUAN ĐẾN ĐẶT KIM LUỒN TĨNH MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2025

Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nguyễn Đăng Vững, Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Thị Hương Chà
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6583
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện mắc, mức độ viêm tĩnh mạch liên quan đến đặt kim luồn tĩnh
mạch ngoại vi (PIVC) và một số yếu tố liên quan ở người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa
Đức Giang năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 347 người bệnh ≥18 tuổi có
đặt PIVC, điều trị nội trú tại 13 khoa lâm sàng (tháng 4–9/2025). Viêm tĩnh mạch được đánh
giá tại một thời điểm bằng thang điểm VIP. Số liệu thu thập qua hồ sơ bệnh án, phỏng vấn và
quan sát trực tiếp vị trí đặt catheter. Tỷ lệ hiện mắc trình bày kèm khoảng tin cậy 95% (KTC);
mối liên quan thô trình bày bằng tỷ suất chênh (OR) kèm KTC 95% (kiểm định Fisher).
Kết quả: Tỷ lệ hiện mắc viêm tĩnh mạch tại chỗ là 14,1% (49/347; KTC 95% 10,8–18,2). Tất
cả đều ở mức nhẹ: độ I 11,8% (KTC 95% 8,8–15,6) và độ II 2,3% (KTC 95% 1,2–4,5); không
ghi nhận độ III–V. Phân tích đơn biến cho thấy viêm tĩnh mạch có liên quan có ý nghĩa với
tuổi ≥50 (OR 2,51; KTC 95% 1,13–5,56), thời gian lưu kim >48–72 giờ so với 24–48 giờ (OR
4,01; KTC 95% 1,89–8,51) và số lần đặt ≥4 so với 1–3 (OR 5,62; KTC 95% 2,10–15,06).
Bệnh lý kèm theo không liên quan có ý nghĩa với viêm tĩnh mạch (OR 1,02; KTC 95%
0,56–1,88).
Kết luận: Viêm tĩnh mạch liên quan PIVC gặp ở khoảng 1/7 người bệnh có đặt catheter, chủ
yếu ở mức độ sớm trên lâm sàng. Do đây là khảo sát tại một thời điểm, số đo phản ánh tỷ lệ
hiện mắc chứ không phải tỷ lệ mới mắc và các mối liên quan là thô; khuyến nghị đánh giá vị
trí đặt kim chuẩn hóa thường quy (thang VIP) và cần nghiên cứu theo dõi tiến cứu để xác định
nguy cơ theo vòng đời catheter.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Fernández-Ruiz M, Carretero A, Díaz D, Fuentes C, González JI, García-Reyne A, et al. Google Scholar
[2]
Hospital-wide survey of the adequacy in the number of vascular catheters and catheter Google Scholar
[3]
lumens. J Hosp Med. 2014;9(1):35–41. Google Scholar
[4]
2. Bộ Y tế. Hướng dẫn thực hành kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa Google Scholar
[5]
bệnh. Hà Nội: Nhà xuất bản Y học; 2017. Google Scholar
[6]
3. Hội Điều dưỡng Việt Nam. Hướng dẫn chăm sóc và sử dụng đường truyền tĩnh mạch ngoại Google Scholar
[7]
vi. Hà Nội: Hội Điều dưỡng Việt Nam; 2018. Google Scholar
[8]
4. Gorski LA, Hadaway L, Hagle ME, McGoldrick M, Orr M, Doellman D. Infusion therapy Google Scholar
[9]
standards of practice. J Infus Nurs. 2016;39(1S):S1–S159. Google Scholar
[10]
5. Maki DG, Kluger DM, Crnich CJ. The risk of bloodstream infection in adults with different Google Scholar
[11]
intravascular devices: a systematic review of 200 published prospective studies. Mayo Google Scholar
[12]
Clin Proc. 2006;81(9):1159–71. Google Scholar
[13]
6. Ray-Barruel G, Polit DF, Murfield JE, Rickard CM. Infusion phlebitis assessment Google Scholar
[14]
measures: a systematic review. J Eval Clin Pract. 2014;20(2):191–202. Google Scholar
[15]
7. Tagalakis V, Kahn SR, Libman M, Blostein M. The epidemiology of peripheral vein Google Scholar
[16]
infusion thrombophlebitis: a critical review. Am J Med. 2002;113(2):146–51. Google Scholar
[17]
8. Đặng Duy Quang, Phan Cảnh Chương, Lê Thị Hằng, Trần Thị Yến Linh, Dương Thị Google Scholar
[18]
Huỳnh Mai. Đánh giá tình trạng viêm tại chỗ trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch Google Scholar
[19]
ngoại biên tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tạp chí Y học lâm sàng Bệnh viện Trung ương Google Scholar
[20]
Huế. 2020;12(63). doi:10.38103/jcmhch.2020.63.10. Google Scholar
[21]
9. Jackson A. Infection control – a battle in vein: infusion phlebitis. Nurs Times. Google Scholar
[22]
1998;94(4):68–71. Google Scholar
[23]
10. Thái Đức Thuận Phong, Nguyễn Văn Thà, Trần Huy Giang, Bùi Hữu Minh Trí. Khảo sát Google Scholar
[24]
tỷ lệ viêm tại chỗ do đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Google Scholar
[25]
Tim mạch An Giang, 4–10/2011. Bệnh viện Tim mạch An Giang: Đề tài cơ sở; 2011. Google Scholar
[26]
[27]
11. Trần Thị Lý, Cao Thị Hồng Hà, Lê Văn Nhân. Đặc điểm viêm tĩnh mạch sau đặt catheter Google Scholar
[28]
tĩnh mạch ngoại vi trên người bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Tạp chí Y học Việt Google Scholar
[29]
Nam. 2023;529(2):55–59. Google Scholar
[30]
12. Powell J, Tarnow KG, Perucca R. The relationship between peripheral intravenous Google Scholar
[31]
catheter indwell time and the incidence of phlebitis. J Infus Nurs. 2008;31(1):39–45. Google Scholar
[32]
13. Rickard CM, Webster J, Wallis MC, Marsh N, McGrail MR, French V, et al. Routine Google Scholar
[33]
versus clinically indicated replacement of peripheral intravenous catheters: a randomised Google Scholar
[34]
controlled equivalence trial. Lancet. 2012;380(9847):1066–74. Google Scholar
[35]
14. Cicolini G, Bonghi AP, Di Labio L, Di Mascio R. Position of peripheral venous cannulae Google Scholar
[36]
and the incidence of thrombophlebitis: an observational study. J Adv Nurs. Google Scholar
[37]
2009;65(6):1268–73. Google Scholar