Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện mắc, mức độ viêm tĩnh mạch liên quan đến đặt kim luồn tĩnh
mạch ngoại vi (PIVC) và một số yếu tố liên quan ở người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa
Đức Giang năm 2025.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 347 người bệnh ≥18 tuổi có
đặt PIVC, điều trị nội trú tại 13 khoa lâm sàng (tháng 4–9/2025). Viêm tĩnh mạch được đánh
giá tại một thời điểm bằng thang điểm VIP. Số liệu thu thập qua hồ sơ bệnh án, phỏng vấn và
quan sát trực tiếp vị trí đặt catheter. Tỷ lệ hiện mắc trình bày kèm khoảng tin cậy 95% (KTC);
mối liên quan thô trình bày bằng tỷ suất chênh (OR) kèm KTC 95% (kiểm định Fisher).
Kết quả: Tỷ lệ hiện mắc viêm tĩnh mạch tại chỗ là 14,1% (49/347; KTC 95% 10,8–18,2). Tất
cả đều ở mức nhẹ: độ I 11,8% (KTC 95% 8,8–15,6) và độ II 2,3% (KTC 95% 1,2–4,5); không
ghi nhận độ III–V. Phân tích đơn biến cho thấy viêm tĩnh mạch có liên quan có ý nghĩa với
tuổi ≥50 (OR 2,51; KTC 95% 1,13–5,56), thời gian lưu kim >48–72 giờ so với 24–48 giờ (OR
4,01; KTC 95% 1,89–8,51) và số lần đặt ≥4 so với 1–3 (OR 5,62; KTC 95% 2,10–15,06).
Bệnh lý kèm theo không liên quan có ý nghĩa với viêm tĩnh mạch (OR 1,02; KTC 95%
0,56–1,88).
Kết luận: Viêm tĩnh mạch liên quan PIVC gặp ở khoảng 1/7 người bệnh có đặt catheter, chủ
yếu ở mức độ sớm trên lâm sàng. Do đây là khảo sát tại một thời điểm, số đo phản ánh tỷ lệ
hiện mắc chứ không phải tỷ lệ mới mắc và các mối liên quan là thô; khuyến nghị đánh giá vị
trí đặt kim chuẩn hóa thường quy (thang VIP) và cần nghiên cứu theo dõi tiến cứu để xác định
nguy cơ theo vòng đời catheter.