Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 17/09/2026

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM HÓA SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Dung, Lê Tấn Hùng, Lê Trần Thúy Vy
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6568
2 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng chất lượng xét nghiệm hóa sinh tại Bệnh viện Đa khoa Nhà Bè năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu và tiến cứu. Nghiên cứu thực hiện trên 360 kết quả nội kiểm dải cao, 36 kết quả ngoại kiểm và 360 lượt giám sát tuân thủ quy trình xét nghiệm. Số liệu được thu thập bằng bảng kiểm chuẩn hóa theo Quyết định 2429/QĐ-BYT và phân tích bằng phần mềm Stata 17.0.

Kết quả: Tỷ lệ đạt yêu cầu trung bình của nội kiểm dải cao đạt 89,9%; các chỉ số có tỷ lệ đạt cao gồm cholesterol toàn phần (93,3%), glucose, triglyceride và acid uric (91,7%). Tỷ lệ đạt yêu cầu trung bình của ngoại kiểm đạt 86,1%; nhiều chỉ số đạt 100% trong cả 3 tháng cuối năm 2025 như glucose, ure, HDL-C và GGT, trong khi SGPT (ALT) có tỷ lệ đạt thấp nhất (33,3%). Tỷ lệ tuân thủ đầy đủ các bước trong tiến trình xét nghiệm đạt cao ở cả 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn trong xét nghiệm đạt cao nhất (93,9%) và giai đoạn trước xét nghiệm thấp nhất (91,7%).

Kết luận: Chất lượng xét nghiệm hóa sinh tại Bệnh viện Đa khoa Nhà Bè nhìn chung đạt mức tương đối tốt. Tuy nhiên, cần tiếp tục tăng cường quản lý chất lượng, giám sát quy trình kỹ thuật và nâng cao năng lực chuyên môn của nhân viên nhằm cải thiện độ chính xác và độ tin cậy của kết quả xét nghiệm.

Tài liệu tham khảo
[1]
[1] Trần Hữu Tâm. Những vấn đề cơ bản trong đảm bảo chất lượng xét nghiệm y học, Nhà xuất bản Y học, 2015. Google Scholar
[2]
[2] Bộ Y tế. Bộ Tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam, phiên bản 2.0 (Ban hành kèm theo Quyết định số 6858/QĐ-BYT ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Google Scholar
[3]
[3] Bộ Y tế. Bộ Tiêu chí đánh giá mức chất lượng phòng xét nghiệm y học (Ban hành kèm theo Quyết định số 2429/QĐ-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế). Google Scholar
[4]
[4] Đào Thị Thanh Bình. Thực trạng tuân thủ quy trình lấy máu tĩnh mạch, lấy mẫu nước tiểu và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Đa khoa Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, năm 2018. Luận văn thạc sĩ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế Công cộng, 2018, tr. 113. Google Scholar
[5]
[5] Văn Hy Triết và cộng sự. Khảo sát chương trình ngoại kiểm hóa sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tại phòng xét nghiệm ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2025, 22 (11): 1951-1959. doi: 10.54607/hcmue.js.22.11.5285(2025). Google Scholar
[6]
[6] Nguyễn Thị Nhạn, Lê Quốc Bảo và cộng sự. Nghiên cứu triển khai mô hình công nghệ AI trong xác định khoảng phân tích nội kiểm chất lượng xét nghiệm hóa sinh tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh. Tạp chí Y học Cộng đồng, 2025, 66 (CĐ22): 15-20. doi: 10.52163/yhc.v66iCD22.3759. Google Scholar
[7]
[7] Võ Ngọc Nguyên, Nguyễn Đàm Châu Bảo và cộng sự. Đánh giá mức độ biến thiên giữa các phương pháp một số xét nghiệm ngoại kiểm sinh hóa năm 2024. Tạp chí Nghiên cứu Y học, 2026, 198 (1): 440-448. doi: 10.52852/tcncyh.v198i1.4542. Google Scholar
[8]
[8] Richardson H. Medical laboratories - requirements for quality and competence: an ISO perspective. The International Jourrnal of Transfusion Medicune, 2002, 83 (Suppl 1): 333-335. doi: 10.1111/j.1423-0410.2002.tb05329.x Google Scholar
[9]
[9] Mario Plebani. Errors in clinical laboratories or errors in laboratory medicine? Clinical Chemistry & Laboratory Medicine, 2006, 44 (6): 751-759. doi: 10.1515/CCLM.2006.123 Google Scholar