Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 09/09/2026

THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG Ở HỌC SINH TẠI BA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI NĂM 2019

Dương Minh Đức1,2, Nguyễn Phương Anh3,4
1 1Department of Social and Behavioral Sciences, Hanoi University of Public Health 2General Administration Division, Hanoi Department of Health
2 Khoa Khoa học xã hội và Hành vi, Trường Đại học Y tế công cộng
3 General Administration Division, Hanoi Department of Health
4 Phòng Hành chính – Tổng hợp, Sở Y tế Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6510
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Bạo lực học đường (BLHĐ) ở tuổi vị thành niên là một vấn đề y tế công cộng trên toàn thế giới. Tại huyện Sóc Sơn, BLHĐ trong nhóm học sinh phổ thông có chiều hướng ngày càng gia tăng về tỉ lệ cũng như cường độ. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng BLHĐ của học sinh các trường trung học phổ thông (THPT) tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng có phân tích tại 3 trường THPT của huyện Sóc Sơn. Dữ liệu của nghiên cứu được lấy từ đề tài “Đánh giá các hành vi nguy cơ với sức khỏe trẻ vị thành niên tại Hà Nội năm 2019” do chủ nhiệm đề tài (tác giả bài báo) và nhóm nghiên cứu trường Đại học Y tế công cộng thu thập online thông qua phần mềm KoboToolbox và phân tích bằng phần mềm SPSS 24.0. Bộ công cụ được sử dụng từ khảo sát hành vi nguy cơ YRBSS của Hoa Kỳ.

Kết quả: Có 757 học sinh tại 3 trường được tiến hành khảo sát của huyện Sóc Sơn được tiến hành phân tích. Tỷ lệ học sinh bị bạo lực trong 12 tháng qua là 12%. Tỷ lệ học sinh đã từng có hành vi bạo lực chiếm 18% và 5,2% học sinh vừa tham gia bạo lực vừa bị bạo lực.

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy thực trạng BLHĐ diễn ra phổ biến và cần được quan tâm ở học sinh THPT. Các yếu tố nguy cơ bị bạo lực hoặc có hành vi bạo lực bao gồm hạnh kiểm yếu của học sinh, nghề nghiệp của bố, mẹ không ổn định, từng chứng kiến hành vi bạo hành trong gia đình và có bạn thân tham gia BLHĐ. Kết quả cho thấy nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với gia đình trong việc giám sát học sinh, hỗ trợ cả về mặt tinh thần, định hướng và giúp đỡ con em mình trong việc ra quyết định nhằm góp phần ngăn chặn bạo lực, đảm bảo môi trường sống và học tập an toàn và lành mạnh.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. World Health Organization. Adolescent health. http://www.who.int/topics/adolescent_health/en/. Published 2018. Accessed Dec 30, 2019. Google Scholar
[2]
2. Centers for Disease Control and Prevention. High School Youth Risk Behavior Surveillance System. Published 2017 Accessed. Google Scholar
[3]
3. Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, WHO, UNICEF. Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY II). Hà Nội, Việt Nam. 2010 Google Scholar
[4]
4. Bộ Nội vụ QDsLhqtVN. Báo cáo Quốc gia về Thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY - 2). 2015. Google Scholar
[5]
5. CDC. YRBS questionnaire https://www.cdc.gov/. Published 2017. Accessed. Google Scholar
[6]
6. Eaton DK, Kann L, Kinchen S, et al. Youth risk behavior surveillance--United States, 2007. Morbidity and mortality weekly report Surveillance summaries (Washington, DC : 2002). 2008;57(4):1-131. Google Scholar
[7]
7. Kann L, McManus T, Harris WA, et al. Youth Risk Behavior Surveillance - United States, 2017. Morbidity and mortality weekly report Surveillance summaries (Washington, DC : 2002). 2018;67(8):1-114. Google Scholar
[8]
8. Sirirassamee T, Sirirassamee B. Health risk behavior among Thai youth: national survey 2013. Asia Pac J Public Health. 2015;27(1):76-84. Google Scholar
[9]
9. Tổng cục Dân Số - Kế hoạch hóa gia đình. Hội thảo hưởng ứng Ngày Tránh thai Thế giới 2020. http://gopfp.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/hoi-thao-huong-ung-ngay-tranh-thai-the-gioi-2020-10603-1.html. Published 2020. Accessed 25/09, 2020. Google Scholar