Mục tiêu: So sánh biên độ dịch chuyển theo chiều trước – sau của các cấu trúc mô cứng và mô mềm vùng hàm dưới sau điều trị bằng phương pháp “phẫu thuật trước” (Surgery-First Approach – SFA) và phương pháp “phẫu thuật sau” (Orthodontics-First Approach – OFA) truyền thống, nhằm đánh giá hiệu quả cải thiện thẩm mỹ mặt nghiêng theo chiều trước - sau của phác đồ SFA.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu so sánh trên 83 bệnh nhân trưởng thành sai hình xương hạng III do quá triển xương hàm dưới. Mẫu nghiên cứu gồm 63 ca điều trị theo phác đồ SFA và 20 ca điều trị theo phác đồ OFA lùi hàm dưới. Phim sọ nghiêng kỹ thuật số được phân tích bằng phần mềm SmartCeph ở hai thời điểm: trước điều trị (T1) và sau khi hoàn tất chỉnh nha (T3) nhằm đo đạc sự dịch chuyển của mô cứng và mô mềm hàm mặt theo chiều trước – sau. Sự dịch chuyển này được định lượng bằng cách tính khoảng cách vuông góc từ các mốc giải phẫu đến đường tham chiếu dọc qua Nasion (NVL – Nasion Vertical Line).
Kết quả: Kết quả điều trị ở cả hai nhóm chứng minh sự cải thiện về mặt nghiêng thông qua sự lùi sau rõ rệt của toàn bộ cấu trúc hàm dưới. Phân tích thống kê biên độ dịch chuyển tổng thể (T1–T3) theo hệ trục NVL không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) giữa nhóm SFA và OFA ở các vị trí: răng cửa dưới (NVL-L1: -7,17 ± 2,80 mm so với -8,04 ± 3,28 mm), điểm B xương (NVL-B: -8,47 ± 3,32 mm so với -8,78 ± 3,36 mm) và cằm xương (NVL-Pog: -7,30 ± 4,06 mm so với -6,74 ± 4,00 mm). Tương tự, sự đáp ứng lùi sau của mô mềm cũng không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p > 0,05) tại mốc môi dưới (NVL-Li: -7,52 ± 3,01 mm so với -6,99 ± 3,25 mm), rãnh môi cằm (NVL-B': -7,57 ± 3,01 mm so với -7,31 ± 3,48 mm) và cằm mô mềm (NVL-Pog': -6,84 ± 3,93 mm so với -6,57 ± 3,94 mm).
Kết luận: Phác đồ phẫu thuật trước (SFA) mang lại hiệu quả dịch chuyển lùi nền xương hàm dưới và cải thiện thẩm mỹ mặt nghiêng mô mềm không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với phác đồ OFA truyền thống. SFA góp phần thể hiện hiệu quả lâm sàng khi loại bỏ được giai đoạn làm trầm trọng thêm tình trạng móm khuôn mặt ở giai đoạn chỉnh nha tiền phẫu, đem lại sự thay đổi diện mạo tức thì cho người bệnh.