Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 09/09/2026

DỊ DẠNG TĨNH MẠCH DẠNG HANG HẬU NHÃN CẦU: THÁCH THỨC TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ LỰA CHỌN THEO DÕI.

Nguyễn Lê Ngọc Khanh1,2, Nguyễn Hồ Việt Liên3,4, Phan Nhã Uyên5,6, Nguyễn Thị Thu Hương1,2, Nguyễn Thị Bích Hường7,8
1 Vinmec-Alina Eye Center, Vinmec Times City International General Hospital, Hanoi
2 Trung tâm Mắt Vinmec - Alina, Bv Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, Hà Nội
3 Saigon Eye Hospital (Cach Mang Thang Tam Branch), Ho Chi Minh City
4 Bệnh viện Đa khoa Mắt Sài Gòn Cách Mạng Tháng Tám, TP HCM
5 Eye Center – Hue Central Hospital, Hue City
6 Trung tâm Mắt-Bệnh viện Trung ương Huế, TP Huế
7 Department of Ophthalmology – Quang Ninh Provincial General Hospital
8 Khoa Mắt – Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6500
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Tổng quan: Dị dạng tĩnh mạch dạng hang hốc mắt (cavernous venous malformation, CVM; trước đây thường gọi u máu thể hang) là tổn thương mạch máu dòng chảy chậm thường gặp ở người trưởng thành. Khi khối nằm trong nón cơ và gần thần kinh thị, quyết định theo dõi hay can thiệp cần dựa trên triệu chứng, nguy cơ ảnh hưởng chức năng thị giác và đặc điểm hình ảnh học.

Ca lâm sàng: Bệnh nhân nữ, 45 tuổi, phát hiện tình cờ năm 2022 một khối ở nón cơ hốc mắt trái kích thước 5,8 × 6,6 × 7,8 mm. Bệnh nhân than nhìn mờ nhẹ, không đau, không song thị. MRI ghi nhận tổn thương bờ rõ, tăng tín hiệu T2, ngấm thuốc mạnh sau tiêm gadolinium, chưa thấy dấu chèn ép thần kinh thị hay xâm lấn mô lân cận, phù hợp chẩn đoán CVM. Bệnh nhân được xử trí bảo tồn và theo dõi lâm sàng – MRI mỗi 6 tháng. Đến 03/2025, kích thước khối ổn định; ghi nhận giảm nhẹ thị lực mắt trái.

Kết luận: Trường hợp cho thấy MRI là phương tiện then chốt trong định hướng chẩn đoán tổn thương mạch hốc mắt. Ở tổn thương nhỏ, triệu chứng tối thiểu và chưa có dấu chèn ép, theo dõi có cấu trúc là lựa chọn hợp lý nhằm tránh can thiệp không cần thiết; tuy nhiên cần theo dõi đồng thời tiến triển giải phẫu và chức năng thị giác để kịp thời chuyển chỉ định can thiệp khi có dấu hiệu nguy cơ.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Calandriello L, Gr1. Calandriello L, Grimaldi G, Petrone G, Rigante M, Petroni S, Riso M, Savino G. Cavernous venous malformation (cavernous hemangioma) of the orbit: Current concepts and a review of the literature. Survey of Ophthalmology. 2017;62(4):393-403. Google Scholar
[2]
DOI: 10.1016/j.survophthal.2017.01.004 Google Scholar
[4]
2. Rootman DB, Heran MKS, Rootman J, White VA, Luemsamran P, Yucel YH. Cavernous venous malformations of the orbit (so-called cavernous haemangioma): a comprehensive evaluation of their clinical, imaging and histologic nature. British Journal of Ophthalmology. 2014;98(7):880-888. Google Scholar
[5]
DOI: 10.1136/bjophthalmol-2013-304460 Google Scholar
[7]
3. Longhim ACLV, Chahud F. Biological identity of orbital cavernous venous malformations. Arquivos Brasileiros de Oftalmologia. 2024;87(2):e2023-0338. Google Scholar
[8]
DOI: 10.5935/0004-2749.2023-0338 Google Scholar
[10]
4. Xian J, Zhang Z, Wang Z, et al. Evaluation of MR imaging findings differentiating cavernous haemangiomas from schwannomas in the orbit. European Radiology. 2010;20(9):2221-2228. Google Scholar
[11]
DOI: 10.1007/s00330-010-1774-y Google Scholar
[13]
5. Aymard PA, Langlois B, Putterman M, Jacomet PV, Morax S, Galatoire O. Management of orbital cavernous hemangioma - Evaluation of surgical approaches: Report of 43 cases. Journal Français d'Ophtalmologie. 2013;36(10):820-829. Google Scholar
[14]
DOI: 10.1016/j.jfo.2013.04.009 Google Scholar