Bài báo khoa học Tập 64 Số 3 24/04/2023

16. THỰC TRẠNG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA SẢN PHỤ SAU SINH TRONG THỜI GIAN NẰM VIỆN TẠI KHOA SẢN BỆNH VIỆN QUỐC TẾ HẠNH PHÚC TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2022 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

Lê Thị Phê1,2, Nguyễn Trọng Hưng3,4, Lê Thị Thu Hà5,6
1 Hanh Phuc International Hospital
2 Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc
3 Nutritional Institute
4 Viện Dinh dưỡng
5 Hanoi University of Public Health
6 Trường đại học Y tế Công cộng
Tác giả liên hệ: mhm2031029@studenthuph.edu.vn
DOI: 10.52163/yhc.v64i3.650
21 Lượt xem
9 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của sản phụ sau sinh trong thời gian nằm viện tại
Khoa sản Bệnh viện Quốc tế Hạnh Phúc tỉnh Bình Dương và phân tích một số yếu tố liên quan.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích thực hiện trên 270 ca sinh thường và sinh mổ, sử
dụng bảng kiểm cho con bú sữa mẹ sớm sau sinh và cho con bú sữa mẹ trong thời gian nằm viện và
phỏng vấn để xác định các yếu tố liên quan.
Kết quả: Tỷ lệ trẻ được bú sớm trong 01 giờ đầu sau sinh đạt 86,7% và tỷ lệ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn
trong thời gian nằm viện là 57,8%. Một số yếu tố liên quan tới việc bú sớm sau sinh đó là trình độ
học vấn của bà mẹ, tiền thai, đã từng tham gia lớp tiền sản và phương pháp sinh. Một số yếu tố liên
quan tới bú mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện là đã từng tham gia lớp tiền sản và phương pháp
sinh, có sự giúp đỡ từ gia đình và cho bú đúng cách.
Kết luận: Phần lớn các bà mẹ sinh con tại Bệnh viện Quốc tế Hạnh phúc đã thực hiện cho trẻ bú sớm
sau sinh, tuy nhiên tỷ lệ người mẹ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh đạt
không cao. Tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh ở nhóm có tham gia
tập huấn tiền sản cao gấp 1,2 lần so với nhóm không được tập huấn. Tỷ lệ cho con bú mẹ hoàn toàn
thời gian nằm viện sau sinh ở nhóm sinh mổ thấp hơn so với nhóm sinh thường. Tỷ lệ cho con bú mẹ
hoàn toàn trong thời gian nằm viện sau sinh ở nhóm được gia đình giúp đỡ trong việc cho con bú cao
gấp 1,97 lần so với nhóm không được giúp đỡ.

Tài liệu tham khảo
[1]
Huỳng Nam Phương, Huỳnh Văn Dũng, “Tình Google Scholar
[2]
trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 24 tháng tuổi và Google Scholar
[3]
thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông Google Scholar
[4]
tỉnh Phú Thọ năm 2012”, Tạp chí Dinh dưỡng và Google Scholar
[5]
Thực phẩm, 10 (4), 116 – 123, 2012. Google Scholar
[6]
Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Hội nghị Sản Phụ Google Scholar
[7]
khoa Pháp Việt, Đánh giá thực trạng chăm sóc sản Google Scholar
[8]
phụ và sơ sinh sau mổ lấy thai của điều dưỡng hộ Google Scholar
[9]
sinh tại BV Phụ sản Trung ương, 2019 Google Scholar
[10]
Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Khảo sát các yếu tố ảnh Google Scholar
[11]
hưởng đến tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn Google Scholar
[12]
trong thời gian nằm viện tại Bệnh viện quốc tế Google Scholar
[13]
Hạnh Phúc, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Google Scholar
[14]
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 2020. Google Scholar
[15]
Lâm Kim Hường, Tỷ lệ bú mẹ sớm sau sinh và Google Scholar
[16]
nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại thời điểm Google Scholar
[17]
xuất viện và các yếu tố liên quan tại bệnh viện Google Scholar
[18]
Phụ sản thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ Y Google Scholar
[19]
học, Chuyên ngành Nhi Khoa, Đại học Y Dược Google Scholar
[20]
thành phố Hồ Chí Minh, 87 tr, 2016. Google Scholar
[21]
Ngô Thị Thanh Thảo, Trần Thị Hồng Thắm, Google Scholar
[22]
Huỳnh Thị Minh Dung và cộng sự, “Kiến thức, Google Scholar
[23]
thái độ và thực hành cho bú mẹ sau sinh của Google Scholar
[24]
các bà mẹ sinh ngã âm đạo tại Bệnh viện Hùng Google Scholar
[25]
Vương, thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Phụ Google Scholar
[26]
sản, Tập 16 (số 4), 73-78, 2019. Google Scholar
[27]
WHO, Infant and young child feeding: model Google Scholar
[28]
chapter for textbooks for medical students and Google Scholar
[29]
allied health professionals, 2009. Google Scholar
[30]
WHO, UNICEF, Second biennial progress report Google Scholar
[31]
(2016–2017), 9-24, 2018. Google Scholar