Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ14-HNKH Hội Hóa sinh Y học Việt Nam 19/09/2026

THIẾT LẬP KHOẢNG THAM CHIẾU CREATININE HUYẾT THANH THEO TUỔI VÀ GIỚI Ở TRẺ EM VIỆT NAM

Vũ Thị Tú Uyên, Trần Thị Chi Mai, Trần Minh Điền, Trần Huy Thịnh, Trần Ngọc Thắng, Trịnh Thị Phương Dung
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD14.6487
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Thiết lập khoảng tham chiếu creatinine huyết thanh theo tuổi và giới ở trẻ em Việt Nam khỏe mạnh.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 3.547 trẻ em khỏe mạnh từ sơ sinh đến dưới 19 tuổi, tuyển chọn từ cộng đồng tại 7 tỉnh, thành phố của Việt Nam trong giai đoạn 2024-2026. Nồng độ creatinine huyết thanh được định lượng bằng phương pháp enzym trên hệ thống Roche cobas pro. Giá trị ngoại lai được xác định và loại trừ bằng phương pháp Horn. Nhu cầu phân nhóm theo tuổi và giới được đánh giá bằng phương pháp Harris-Boyd, kiểm định Mann-Whitney U và Cliff's delta. Khoảng tham chiếu được thiết lập bằng phương pháp phi tham số theo hướng dẫn CLSI EP28-A3c.

Kết quả: Nồng độ creatinine huyết thanh thay đổi rõ rệt theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sơ sinh, giảm nhanh trong hai tuần đầu sau sinh và tăng dần đến tuổi vị thành niên. Tất cả các ranh giới tuổi được xác định trước đều đáp ứng tiêu chí phân nhóm, trong khi khoảng tham chiếu riêng theo giới chỉ cần thiết ở nhóm tuổi từ 15 đến dưới 19 tuổi. Nghiên cứu đã thiết lập khoảng tham chiếu creatinine huyết thanh theo tuổi và giới cho trẻ em Việt Nam khỏe mạnh.

Kết luận: Nghiên cứu đã thiết lập khoảng tham chiếu creatinine huyết thanh theo tuổi và giới ở trẻ em Việt Nam khỏe mạnh theo hướng dẫn CLSI EP28-A3c. Các khoảng tham chiếu này là cơ sở để diễn giải kết quả xét nghiệm creatinine ở bệnh nhi.

Tài liệu tham khảo
[1]
1. Stevens PE, Ahmed SB, Carrero JJ, et al. KDIGO 2024 Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Management of Chronic Kidney Disease. Kidney Int. 2024;105(Suppl 4): S117-S314. Google Scholar
[2]
2. Clinical and Laboratory Standards Institute. Defining, Establishing, and Verifying Reference Intervals in the Clinical Laboratory; Approved Guideline - Third Edition. CLSI document EP28-A3c. Wayne (PA): Clinical and Laboratory Standards Institute; 2010. Google Scholar
[3]
3. Colantonio DA, Kyriakopoulou L, Chan MK, et al. Closing the gaps in pediatric laboratory reference intervals: a CALIPER database of 40 biochemical markers in a healthy and multiethnic population of children. Clin Chem. 2012;58(5):854-868. Google Scholar
[4]
4. Tahmasebi H, Higgins V, Fung AWS, Truong D, White-Al Habeeb NMA, Adeli K. Pediatric reference intervals for biochemical markers: gaps and challenges, recent national initiatives and future perspectives. eJIFCC. 2017;28(1):43-63. Google Scholar
[5]
5. Peng X, Peng Y, Zhang C, Zhao M, Yang H, Cao S, et al. Reference intervals of 14 biochemical markers for children and adolescence in China: the PRINCE study. Clin Chem Lab Med. 2022;60(10):1627-1639. Google Scholar
[6]
6. Harris EK, Boyd JC. On dividing reference data into subgroups to produce separate reference ranges. Clin Chem. 1990;36(2):265-270. Google Scholar
[7]
7. Vargha A, Delaney HD. A critique and improvement of the CL common language effect size statistics of McGraw and Wong. J Educ Behav Stat. 2000;25(2):101-132. Google Scholar
[8]
8. Sullivan GM, Feinn R. Using effect size—or why the P value is not enough. J Grad Med Educ. 2012;4(3):279-282. Google Scholar
[9]
9. Higgins V, Chan MK, Nieuwesteeg M, et al. Transference of CALIPER pediatric reference intervals to biochemical assays on the Roche cobas 6000 and the Roche Modular P. Clin Biochem. 2016;49(1-2):139-149. Google Scholar
[10]
10. Suwanrungroj S, Pattarapanitchai P, Chomean S, Kaset C. Establishing age- and gender-specific serum creatinine reference ranges for the Thai pediatric population. PLoS One. 2024;19(3): e0300369. Google Scholar