Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa nồng độ sắt, ferritin huyết tương với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sảng ở bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 196 bệnh nhân (BN) bệnh thận giai đoạn cuối (BTGĐC) lọc máu chu kỳ (LMCK) tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.
Kết quả: Tỷ lệ BN BTGĐC LMCK có thiếu máu chiếm 95,9%, tỷ lệ BN thiếu sắt là 39,8%, nồng độ sắt trung bình là 9,39±4,00 µmol/L. Tỷ lệ BN có nồng độ ferritin thấp chiếm 52,0%, trung vị nồng độ ferritin là 82,5 ng/mL. Nhóm BN ≤60 tuổi; BN nam có nồng độ sắt cao hơn nhóm BN >60 tuổi; BN nữ (10,01±3,75 µmol/L so với 8,76±4,18 µmol/L; p<0,01; 10,41±4,00 µmol/L so với 8,09±3,63 µmol/L; p<0,001). Nồng độ sắt giảm dần theo thời gian LMCK và thấp nhất ở nhóm BN LMCK ≥60 tháng (p=0,0001) và giảm theo mức độ thiếu máu (p<0,01). Không có sự khác biệt về nồng độ ferritin theo tuổi, thời gian LMCK (p>0,05). Có sự khác biệt về nồng độ ferritin theo giới và mức độ thiếu máu (p<0,05).
Kết luận: Có sự khác biệt về nồng độ sắt huyết tương theo tuổi, giới, thời gian LMCK và mức độ thiếu máu. Có sự khác biệt về nồng độ ferritin huyết tương theo giới và mức độ thiếu máu. Có mối tương quan mức độ yếu giữa nồng độ sắt huyết tương với tuổi, thời gian LMCK, nồng độ hemoglobin và nồng độ creatinin huyết tương. Có mối tương quan mức độ yếu giữa nồng độ ferritin huyết tương với số lượng hồng cầu và nồng độ hemoglobin.