Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ13-HNKH Bệnh viện 19-8 10/09/2026

ĐIỀU TRỊ NỘI SOI TÁN SỎI THẬN BẰNG ỐNG SOI MỀM SAU DẪN LƯU Ở BỆNH NHÂN VIÊM THẬN – BỂ THẬN TẮC NGHẼN CẤP

Thành Nguyễn Trần, Quang Nguyễn
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD13.6397
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Đặt vấn đề:

Viêm thận – bể thận tắc nghẽn cấp là một cấp cứu niệu khoa với tỷ lệ mắc và tử vong cao. Nguyên tắc xử trí ban đầu là dẫn lưu khẩn cấp hệ tiết niệu (đặt sonde JJ hoặc dẫn lưu thận qua da) phối hợp kháng sinh đường tĩnh mạch để kiểm soát nhiễm khuẩn và ổn định toàn trạng. Sau khi tình trạng nhiễm khuẩn được kiểm soát, loại bỏ sỏi là bước quan trọng nhằm ngăn tái phát. Nội soi tán sỏi thận bằng ống soi mềm (RIRS) sử dụng laser Holmium là phương pháp ít xâm lấn được ứng dụng rộng rãi.

Phương pháp:

Bài tổng quan tường thuật này tổng hợp bằng chứng từ các nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng về hiệu quả, độ an toàn và thời điểm thực hiện RIRS sau dẫn lưu ở bệnh nhân viêm thận – bể thận tắc nghẽn cấp. Tài liệu được tìm kiếm trên PubMed, Scopus, Embase và Google Scholar đến năm 2025. Các nghiên cứu được chọn khi có báo cáo về tỷ lệ sạch sỏi (SFR), biến chứng, cải thiện chức năng thận và thời điểm can thiệp.

Kết quả:

Hầu hết các tác giả khuyến nghị thực hiện RIRS trong vòng 2–4 tuần sau dẫn lưu, khi bệnh nhân hết sốt, chỉ số viêm trở về bình thường và cấy nước tiểu âm tính. Tỷ lệ sạch sỏi báo cáo dao động 80–90% cho sỏi <2 cm sau một lần can thiệp. Biến chứng thường nhẹ (Clavien I–II), sốt sau mổ là hay gặp nhất (5–10%). Biến chứng nặng như nhiễm khuẩn huyết hay chảy máu nhiều rất hiếm gặp (<2%). So với nội soi tán sỏi qua da (PCNL), RIRS ít chảy máu hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn, phù hợp cho bệnh nhân nguy cơ cao.

Kết luận:

RIRS là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả cho bệnh nhân viêm thận – bể thận tắc nghẽn cấp sau khi đã kiểm soát nhiễm khuẩn. Thời điểm can thiệp tối ưu thường 2–6 tuần sau dẫn lưu, cần cá thể hóa theo tình trạng lâm sàng và kết quả xét nghiệm.