Mục tiêu: Đánh giá bước đầu khả năng ứng dụng của siêu âm (SA) sàn chậu trong khảo sát tiểu tiện không tự chủ khi gắng sức (SUI) ở nữ giới, thông qua đối chiếu với cộng hưởng từ (MRI) động học sàn chậu. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 8 bệnh nhân nữ được chẩn đoán SUI. Các thông số hình thái và động học sàn chậu được đo bằng SA và so sánh với MRI động học. Mối tương quan giữa hai phương pháp được đánh giá bằng hệ số tương quan Pearson. Kết quả: Tuổi trung bình là 56,6 ± 9,5; số lần sinh trung bình 3,6 ± 2,2; phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm Stamey I–II. Góc niệu đạo – bàng quang sau (PUVA) tăng rõ khi gắng sức và có tương quan tốt giữa SA và MRI (r = 0,79). Diện tích khe cơ nâng ghi nhận mức tương quan rất cao (r = 0,97 ở thì Valsalva). Sa bàng quang cũng cho thấy tương quan cao (r = 0,83), trong khi độ di động cổ bàng quang có tương quan thấp (r ≈ 0,17). Dấu hiệu funneling cổ bàng quang được ghi nhận ở 25% trường hợp đồng thuận trên cả MRI động học và siêu âm sàn chậu. Kết luận: Kết quả bước đầu cho thấy siêu âm sàn chậu có khả năng phản ánh các biến đổi hình thái và động học sàn chậu với mức độ tương quan nhất định so với MRI động học. Siêu âm có tiềm năng là công cụ hỗ trợ đánh giá ban đầu trong thực hành lâm sàng, tuy nhiên cần các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn để xác nhận giá trị này.
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ SIÊU ÂM SÀN CHẬU TRONG TIỂU TIỆN KHÔNG TỰ CHỦ KHI GẮNG SỨC Ở NỮ GIỚI: ĐỐI CHIẾU VỚI CỘNG HƯỞNG TỪ ĐỘNG HỌC
0
Lượt xem
0
Lượt tải xuống
Từ khóa
Tiểu tiện không tự chủ khi gắng sức; siêu âm sàn chậu; cộng hưởng từ động học sàn chậu.
Tóm tắt
Tài liệu tham khảo
[1]
Haylen BT, de Ridder D, Freeman RM, Swift SE, Berghmans B, Lee J, et al. An International Urogynecological Association (IUGA)/International Continence Society (ICS) joint report on the terminology for female pelvic floor dysfunction. Int Urogynecol J. 2010;21(1):5–26. doi:10.1007/s00192-009-0976-9
Google Scholar
[2]
Dietz HP. Pelvic floor ultrasound: a review. Ultrasound Obstet Gynecol. 2010;35(5):623–631. doi:10.1002/uog.7651
Google Scholar
[3]
Ormsby EL, Dietz HP, Maher CF. Comparison of transperineal sonography and dynamic pelvic floor MR imaging. AJR Am J Roentgenol. 2005;185(4):1036–1041. doi:10.2214/AJR.04.1300
Google Scholar
[4]
Majida M, Braekken IH, Bø K, Engh ME. Comparison of transperineal ultrasound and magnetic resonance imaging in the assessment of pelvic floor structures. Ultrasound Obstet Gynecol. 2007;29(5):580–585. doi:10.1002/uog.4018
Google Scholar
[5]
International Society of Ultrasound in Obstetrics and Gynecology (ISUOG). ISUOG practice guidelines: role of ultrasound in the assessment of pelvic floor disorders. Ultrasound Obstet Gynecol. 2019;53(6):797–807. doi:10.1002/uog.20165
Google Scholar
[6]
Schaer GN, Perucchini D, Munz E, Peschers U, Koechli OR, Delancey JO. Perineal ultrasound for evaluating the female pelvic floor. J Urol. 1996;155(3):1149–1152.
Google Scholar
[7]
Dietz HP, Shek KL. Three-dimensional pelvic floor ultrasound: a review. Ultrasound Obstet Gynecol. 2005;25(3):291–300. doi:10.1002/uog.1855
Google Scholar
[8]
Minassian VA, Stewart WF, Wood GC. Urinary incontinence in women: a review of prevalence studies. Obstet Gynecol. 2008;111(2 Pt 1):324–331. doi:10.1097/01.AOG.0000297817.09097.f1
Google Scholar
[9]
Rortveit G, Daltveit AK, Hannestad YS, Hunskaar S; Norwegian EPINCONT Study. Urinary incontinence after vaginal delivery or cesarean section. N Engl J Med. 2003;348(10):900–907. doi:10.1056/NEJMoa021788
Google Scholar
[10]
DeLancey JO. Structural support of the urethra: the hammock hypothesis. Am J Obstet Gynecol. 1994;170(6):1713–1723. doi:10.1016/S0002-9378(94)70346-3
Google Scholar
[11]
Petros PE, Ulmsten UI. An integral theory of female urinary incontinence. Acta Obstet Gynecol Scand Suppl. 1990;153:7–31. doi:10.3109/00016349009013313
Google Scholar