Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 25/08/2026

KẾT QUẢ KHỞI PHÁT CHUYỂN DẠ BẰNG DINOPROSTONE TẠI KHOA PHỤ SẢN, BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Đỗ Thị Huyền1,2, Đỗ Văn Hào1,3, Nguyễn Thành Khiêm1,2,3
1 Hanoi Medical University
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6382
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Nhận xét kết quả khởi phát chuyển dạ bằng Dinoprostone tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và một số yếu tố liên quan.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 84 thai kỳ ≥ 37 tuần có chỉ định khởi phát chuyển dạ và Bishop ≤ 5 điểm tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2024 đến tháng 2/2026.

Kết quả: Tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công là 70,2%; tỷ lệ đẻ đường âm đạo là 44%. Tỷ lệ xuất hiện cơn co tử cung cường tính là 8,3%; suy thai 14,3%; chảy máu sau sinh 3,6%. Điểm Bishop ≥ 3 liên quan có ý nghĩa thống kê với khả năng khởi phát chuyển dạ thành công (OR = 5,8; 95% CI: 1,78-19,01; p = 0,004) và khả năng đẻ đường âm đạo ( OR = 8,0; 95% CI: 2,37-27,25; p = 0,001).

Kết luận: Dinoprostone là phương pháp khởi phát chuyển dạ hiệu quả với tỷ lệ thành công cao và độ an toàn chấp nhận được ở thai đủ tháng.

Tài liệu tham khảo
[1]
Osterman M.J.K, Hamilton B.E, Martin J.A, Driscoll A.K, Valenzuela C.P. Births: final data for 2020. Natl Vital Stat Rep, 2022, 70 (17): 1-50. doi: 10.15620/cdc:112078. Google Scholar
[2]
Ngô Thị Thùy Dương. Nghiên cứu hiệu quả gây chuyển dạ của Dinoprostone trên thai phụ đủ tháng tại Khoa Đẻ, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Trường Đại học Y Hà Nội, 2019. Google Scholar
[3]
Phạm Chí Kông, Bùi Thị Viễn Phương. Nghiên cứu hiệu quả khởi phát chuyển dạ bằng Propess đặt âm đạo. Tạp chí Phụ Sản, 2021, 19 (1): 38-46. doi: 10.46755/vjog.2021.1.1173. Google Scholar
[4]
Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Mạnh Thắng. Đánh giá hiệu quả của phương pháp khởi phát chuyển dạ bằng Propess trên thai phụ có thai đủ tháng tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Phú Thọ. Tạp chí Y học Việt Nam, 2025, 556 (3): 185-189. doi: 10.51298/vmj.v556i3.16489. Google Scholar
[5]
Thái Bằng, Đinh Thanh Hà, Cao Xuân Thành, Bùi Đức Hoàn, Nguyễn Như Thu Trúc. Nghiên cứu hiệu quả khởi phát chuyển dạ bằng Propess tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang. Tạp chí Phụ Sản, 2023, 21 (4-5): 75-81. doi: 10.46755/vjog.2023.4-5.1629. Google Scholar
[6]
Zhao L, Lin Y, Jiang T et al. Prediction of the induction to delivery time interval in vaginal Dinoprostone -induced labor: a retrospective study in a Chinese tertiary maternity hospital. J Int Med Res, 2019, 47 (6): 2647-2654. doi: 10.1177/0300060519845780. Google Scholar
[7]
Nguyen Duy Anh, Tran Anh Duc, Nguyen Thi Thu Ha et al. Dinoprostone vaginal insert for induction of labor in women with low-risk pregnancies: a prospective study. Med Arch, 2022, 76 (1): 39-44. doi: 10.5455/medarh.2022.76.39-44. Google Scholar
[8]
Grobman W.A, Rice M.M, Reddy U.M, Tita A.T.N, Silver R.M, Mallett G et al. Labor induction versus expectant management in low-risk nulliparous women. New England Journal of Medicine, 2018, 379 (6): 513-523. doi: 10.1056/NEJMoa1800566. Google Scholar
[9]
Michail A, Fasoulakis Z, Domali E, Daskalakis G, Antsaklis P. Role of the Bishop score in predicting successful induction of vaginal delivery: a systematic review of current evidence. Cureus, 2025, 17 (7): e87467. doi: 10.7759/cureus.87467. Google Scholar