Mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ có ối vỡ non. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả, bao gồm tất cả các thai phụ được chẩn đoán ối vỡ non nhập viện tại Khoa Sản-Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Bình Dương năm 2025. Kết quả: tuổi trung bình của thai phụ là 28,3 ± 7,0 tuổi, trong đó nhóm dưới 35 tuổi chiếm đa số (79,1%). Tỷ lệ có tiền sử mổ lấy thai là 14,9%, sẩy thai 8,1%. Đa phần nhập viện khi thai đã đủ tháng (≥37 tuần) chiếm 91,2%. Thời gian từ vỡ ối đến nhập viện chủ yếu dưới 6 giờ (85,8%). Thời gian từ vỡ ối đến khi sinh dưới 24 giờ chiếm tỷ lệ rất cao (97,3%). Ghi nhận tỷ lệ thấp biến chứng sa dây rốn (0,7%). Đa số thai phụ có AFI bình thường (>5cm) chiếm 86,5%. Nồng độ Hemoglobin trung bình là 12,0 ± 1,4 g/dL. Tỷ lệ thai phụ có bạch cầu tăng cao (≥15.000/mm³) chiếm 17,6%. Kết luận: độ tuổi trung bình là 28,3 ± 7,0, chủ yếu thuộc nhóm nghề nghiệp nông dân và công nhân (57,4%). Đặc điểm lâm sàng nổi bật là đa phần thai phụ nhập viện ở tuổi thai đủ tháng (≥37 tuần chiếm 91,2%). Đa số sản phụ có chỉ số ối (AFI) bình thường và tỷ lệ tăng bạch cầu (≥ 15.000/mm³) chiếm 17,6%. Kết cục thai kỳ ghi nhận tỷ lệ mổ lấy thai là 45,3% cho thấy xu hướng mổ lấy thai đang gia tăng.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT CỤC THAI KỲ CÓ ỐI VỠ NON TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2025
12
Lượt xem
0
Lượt tải xuống
Tóm tắt
Từ khóa
lâm sàng, cận lâm sàng, ối vỡ.
Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn Thị Thu Hà, Phan Thị Huyền Thương, Nguyễn Thị Huệ. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ối vỡ non ở tuổi thai từ 22–34 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;530(1), DOI: 10.51298/vmj.v530i1.6557.
Google Scholar
[2]
Phạm Thị Thùy Linh, Nguyễn Văn Lâm, Đỗ Thị Minh Nguyệt, Lâm Đức Tâm. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết cục thai kỳ ở thai 24-34 tuần ối vỡ non tại Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ năm 2023-2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;542(2), DOI: 10.51298/vmj.v542i2.11057.
Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Tuấn Đạt, Phan Thị Huyền Thương. Kết quả điều trị các trường hợp ối vỡ non ở tuổi thai từ 24-34 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;534(1), DOI: 10.51298/vmj.v534i1.8013.
Google Scholar
[4]
Yu H, Wang X, Gao H, You Y, Xing A. Perinatal outcomes of pregnancies complicated by preterm premature rupture of the membranes before 34 weeks of gestation in a tertiary center in China: A retrospective review. BioScience Trends. 2015;9(1):35-41, DOI: 10.5582/bst.2014.01058.
Google Scholar
[5]
Endale T, Fentahun N, Gemada D, Hussen MA. Maternal and fetal outcomes in term premature rupture of membrane. World J Emerg Med. 2016;7(2):147-52, DOI: 10.5847/wjem.j.1920-8642.2016.02.011.
Google Scholar
[6]
Lin D, Hu B, Xiu Y, Ji R, Zeng H, Chen H, et al. Risk factors for premature rupture of membranes in pregnant women: a systematic review and meta-analysis. BMJ Open. 2024;14(3):e077727, DOI: 10.1136/bmjopen-2023-077727.
Google Scholar
[7]
Đặng Văn Quy, Đỗ Tuấn Đạt. Đặc điểm lâm sàng của thai phụ ối vỡ non ở tuổi thai từ 24-34 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;537(1), DOI: 10.51298/vmj.v537i1.9018.
Google Scholar
[8]
Nguyễn Thị Thu Hà, Đỗ Tuấn Đạt. Đặc điểm của thai phụ ối vỡ non tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2022. Tạp Chí Y học Cộng đồng. 2024;65(CĐ 2 - NCKH), DOI: 10.52163/yhc.v65iCD2.1046.
Google Scholar
[9]
Nguyễn Trung Kiên, Lê Thị Ngọc Ánh, Bùi Thị Thanh Tuyền, Đào Nguyên Hùng. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các phương pháp xử trí ối vỡ non có tuổi thai từ 28 tuần trở lên tại Bệnh viện Phụ sản Thái Bình năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;556(1), DOI: 10.51298/vmj.v556i1.16308.
Google Scholar
[10]
Lương Hoàng Thành, Đỗ Xuân Vinh, Dương Thị Thu Hà, Lê Văn Đạt. Đặc điểm và thái độ xử trí ối vỡ non ở tuổi thai từ 28 tuần 0 ngày đến 33 tuần 6 ngày tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2022. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;539(1B), DOI: 10.51298/vmj.v539i1B.9905.
Google Scholar
[11]
Giang TTL, Linh HTK. Nghiên cứu một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị ở sản phụ có ối vỡ non tại Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế. Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế. 2022;2(12), DOI: 10.34071/jmp.2022.2.4.
Google Scholar