Bài báo khoa học Tập 67 Số CĐ9-Hội Y học Giới tính 22/07/2026

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHĂM SÓC THIẾT YẾU BÀ MẸ, TRẺ SƠ SINH TRONG VÀ NGAY SAU MỔ LẤY THAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG NĂM 2025

Nguyễn Thị Ngọc Dung1,2, Nguyễn Đăng Vững3,4, Nguyễn Hữu Thắng3,4, Nguyễn Thị Hương Chà1,2
1 Duc Giang General Hospital, Hanoi, Vietnam
2 Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, Hà Nội
3 Hanoi Medical University, Hanoi
4 Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD9.6376
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng thực hiện chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh (CSTYBM-TSS) trong và ngay sau mổ lấy thai và (2) phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang năm 2025.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thiết kế hỗn hợp theo trình tự giải thích (định lượng trước – định tính sau). Cấu phần định lượng quan sát 177 ca mổ lấy thai đủ tháng (≥37 tuần) từ tháng 4 đến tháng 8/2025 bằng bảng kiểm 20 tiêu chí theo Quyết định 6734/QĐ-BYT (2016). Đơn vị quan sát là mỗi ca mổ (kíp chăm sóc). Cấu phần định tính gồm phỏng vấn sâu hộ sinh – điều dưỡng, thành viên kíp phẫu thuật và sản phụ nhằm giải thích các yếu tố ảnh hưởng. Số liệu định lượng nhập bằng Epidata 3.1, phân tích bằng SPSS 20.0 (thống kê mô tả); số liệu định tính phân tích theo chủ đề.

Kết quả: Tỷ lệ ca đạt ngưỡng chấm điểm quy ước (≥36/40 điểm) là 96,0% (170/177). Các nội dung đạt tỷ lệ cao: tiêm oxytocin (100%), kiểm tra dây rốn trước khi kẹp (98,9%), đặt trẻ da kề da đúng kỹ thuật (96,0%). Về thời lượng da kề da: 160/177 (90,4%) ca duy trì đủ mốc khuyến cáo ≥90 phút, 12/177 (6,8%) có da kề da nhưng chưa đủ thời gian và 5/177 (2,8%) không thực hiện được; 170/177 (96,0%) trẻ hoàn thành bữa bú đầu trong giờ đầu sau sinh. Hai thao tác có tỷ lệ chưa đạt cao nhất là lau khô trẻ đúng trình tự (159/177; 89,8%) và kiểm tra bóng – mặt nạ – máy hút hồi sức (164/177; 92,7%). Phân tích định tính cho thấy các yếu tố ảnh hưởng chính gồm: thiếu nhân lực đón bé và hỗ trợ bà mẹ; hạn chế diện tích, độ riêng tư của phòng hậu phẫu; thái độ chủ quan với một số bước; và các rào cản từ phía bà mẹ (mệt, buồn nôn, tụt huyết áp sau gây tê, trẻ non/tím tái/cân nặng lớn).

Kết luận: Tại thời điểm khảo sát, phần lớn các bước CSTYBM-TSS trong mổ lấy thai được thực hiện với tỷ lệ đạt ngưỡng cao trên nhóm ca đủ điều kiện quan sát; tuy nhiên vẫn còn khoảng trống ở khâu chuẩn bị dụng cụ hồi sức, lau khô đúng trình tự và duy trì da kề da đủ thời gian. Cần giám sát định kỳ, đào tạo dựa trên năng lực và bổ sung nhân lực để cải thiện các bước còn hạn chế. Do là nghiên cứu cắt ngang, không có nhóm chứng/số liệu nền, kết quả không phản ánh xu hướng thay đổi theo thời gian.

Tài liệu tham khảo
[1]
World Health Organization. WHO recommendations on newborn health: guidelines approved by the WHO Guidelines Review Committee. Geneva: WHO; 2017. Google Scholar
[2]
Bộ Y tế. Quyết định số 4673/QĐ-BYT ngày 10/11/2014 phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ. Hà Nội: Bộ Y tế; 2014. Google Scholar
[3]
Bộ Y tế. Quyết định số 6734/QĐ-BYT ngày 15/11/2016 phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai. Hà Nội: Bộ Y tế; 2016. Google Scholar
[4]
Bộ Y tế. Quyết định số 5913/QĐ-BYT ngày 29/12/2021 phê duyệt tài liệu “Tiêu chí và hướng dẫn đánh giá công nhận bệnh viện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc”. Hà Nội: Bộ Y tế; 2021. Google Scholar
[5]
Lê Minh Thi. Đánh giá thực hành chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Quốc tế Hà Nội. Tạp chí Điều dưỡng Việt Nam. Năm 2021; số 31: 62–68]. Google Scholar
[6]
Trương Thị Mỹ Hà. Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Hà Nội; 2020. Google Scholar
[7]
McDonald SJ, Middleton P, Dowswell T, Morris PS. Effect of timing of umbilical cord clamping of term infants on maternal and neonatal outcomes. Cochrane Database Syst Rev. 2013;(7):CD004074. Google Scholar
[8]
Hoàng Thị Thu Hương. Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Vinmec năm 2018. Hà Nội; 2018. Google Scholar
[9]
Phí Thị Thu Hà. Thực trạng thực hiện chăm sóc thiết yếu bà mẹ và trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh. Tạp chí Y học Việt Nam năm 2020; tập 490(2): 89–95. Google Scholar
[10]
Nguyễn Thị Thanh Thúy. Thực trạng tuân thủ quy trình chăm sóc thiết yếu cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong và sau mổ lấy thai tại Khoa Phụ sản, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Google Scholar