Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 25/08/2026

TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH NANG NHÁI SÀN MIỆNG

Quý Cao Khắc1,2, Huy Nguyễn Hoàng1,2, Tuấn Lê Anh3,4
1 Department of Otolaryngology, Hanoi Medical University
2 Bộ môn Tai Mũi Họng, Trường Đại học Y Hà Nội
3 National Otolaryngology Hospital
4 Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6363
60 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm các nghiên cứu về điều trị bệnh nang nhái sàn miệng và tổng hợp kết quả điều trị của các phương pháp đã được công bố.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tổng quan luận điểm được thực hiện theo định hướng PRISMA-ScR. Các nghiên cứu được tìm kiếm trên PubMed, Google Scholar, thư viện Trường Đại học Y Hà Nội và các nguồn tạp chí y học trong nước. Tiêu chuẩn lựa chọn gồm các nghiên cứu lâm sàng có toàn văn bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, công bố từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2025, có dữ liệu về phương pháp và kết quả điều trị nang nhái sàn miệng. Dữ liệu được trích xuất và tổng hợp mô tả theo nhóm phương pháp điều trị.

Kết quả: Từ 357 tài liệu ban đầu, sau khi loại trùng lặp và sàng lọc, 15 nghiên cứu với 336 bệnh nhân được đưa vào tổng hợp. 3 nhóm phương pháp điều trị chính gồm phẫu thuật, tiêm xơ OK-432 và tiêm xơ Bleomycin. Phẫu thuật được áp dụng nhiều nhất với 202 bệnh nhân, tỷ lệ tái phát 17,3% và biến chứng 5,9%. Các kỹ thuật cắt tuyến dưới lưỡi đơn thuần hoặc kết hợp cắt nang có xu hướng cho tỷ lệ tái phát thấp hơn so với các kỹ thuật bảo tồn tuyến. OK-432 được áp dụng ở 51 bệnh nhân, tỷ lệ tái phát 39,2%; biến chứng chủ yếu là phản ứng viêm tại chỗ sau tiêm. Bleomycin được áp dụng ở 83 bệnh nhân, tỷ lệ tái phát 22,9%, biến chứng nhìn chung nhẹ và thoáng qua.

Kết luận: Bằng chứng hiện có cho thấy phẫu thuật, đặc biệt cắt tuyến dưới lưỡi, là phương pháp có xu hướng kiểm soát tái phát tốt nhất. Tiêm xơ OK-432 hoặc Bleomycin có thể được cân nhắc trong các trường hợp chọn lọc, nhất là tổn thương nhỏ hoặc khi cần ưu tiên phương pháp ít xâm lấn. Việc lựa chọn phương pháp điều trị cần cá thể hóa theo thể bệnh, kích thước, mức độ lan rộng và tiền sử điều trị.

Tài liệu tham khảo
[1]
Baurmash H.D. Mucoceles and ranulas. Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 2003, 61, (3): 369-378. doi: 10.1053/joms.2003.50074 Google Scholar
[2]
Zhao Y.F, Jia Y, Chen X.M, Zhang W.F. Clinical review of 580 ranulas. Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, 2004, 98 (3): 281-7. doi: 10.1016/S1079210404000800 Google Scholar
[3]
Patel M.R, Deal A.M, Shockley W.W. Oral and plunging ranulas: what is the most effective treatment? Laryngoscope, 2009, 119 (8): 1501-1509. doi: 10.1002/lary.20291 Google Scholar
[4]
Kono M, Satomi T et al. Evaluation of OK-432 injection therapy as a possible primary treatment for intraoral ranula. J Oral Maxillofac Surg, 2017, 75 (2): 336-342. doi: 10.1016/j.joms.2016.08.013 Google Scholar
[5]
Torres Y, Brygo A, Ferri J. A 17-year surgical experience of the intraoral approach for ranulas. J Stomatol Oral Maxillofac Surg, 2018, 119 (3): 172-176. doi: 10.1016/j.jormas.2018.02.011 Google Scholar
[6]
Kokong D, Iduh A et al. Ranula: current concept of pathophysiologic basis and surgical management options. World J Surg, 2017, 41 (6): 1476-1481. doi: 10.1007/s00268-017-3901-2 Google Scholar
[7]
Than J.K, Rosenberg T.L et al. The importance of sublingual gland removal in treatment of ranulas: a large retrospective study. Am J Otolaryngol, 2020, 41 (3): 102418. doi: 10.1016/j.amjoto.2020.102418 Google Scholar
[8]
Woo S.H, Chi J.K et al. Treatment of intraoral ranulas with micromarsupialization: clinical outcomes and safety from a phase II clinical trial. Head Neck, 2015, 37 (2): 197-201. Google Scholar
[9]
doi: 10.1002/hed.23579 Google Scholar
[10]
Manna S, Bageac D.V et al. Bleomycin sclerotherapy following Doxycycline lavage in the treatment of ranulas: a retrospective analysis and review of the literature. Neuroradiol J, 2021, 34 (5): 449-455. doi: 10.1177/19714009211008790 Google Scholar