Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 25/08/2026

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHỨC NĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN SAU PHẪU THUẬT BẰNG ĐINH NỘI TỦY CHỐNG XOAY PFNA ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI

Vi Văn Dương1,2, Vi Văn Dương1,2, Võ Văn Mẫn1,2
1 South Saigon International General Hospital
2 Bệnh viện Đa khoa quốc tế nam Sài Gòn
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6358
30 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả chức năng khớp háng theo thang điểm Harris Hip Score (HHS) và khảo sát mối liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng, đặc điểm gãy xương, đặc điểm X-quang với kết quả chức năng ở bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được điều trị bằng đinh nội tủy chống xoay PFNA.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu kết hợp tiến cứu trên 36 bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được phẫu thuật bằng đinh PFNA. HHS được đánh giá tại thời điểm tái khám 6 tháng sau phẫu thuật. Điểm HHS được so sánh theo tuổi, giới tính, bệnh lý nội khoa, cơ chế chấn thương, phân độ AO và một số đặc điểm X-quang. Sử dụng t-test, ANOVA, Chi bình phương hoặc Fisher's exact test; ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả:

Điểm HHS khác biệt có ý nghĩa thống kê theo nhóm tuổi và giới tính trong phân tích đơn biến. HHS có xu hướng giảm ở các nhóm tuổi cao hơn, từ 94,71 ± 3,68 ở nhóm <50 tuổi xuống 75,50 ± 3,53 ở nhóm ≥90 tuổi, p < 0,001. Nam giới có điểm HHS trung bình cao hơn nữ giới, lần lượt 91,87 ± 3,44 và 86,23 ± 9,36, p = 0,013. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa HHS với bệnh lý nội khoa, cơ chế chấn thương, phân độ AO và các đặc điểm X-quang được khảo sát. Các kết quả cần được diễn giải thận trọng do cỡ mẫu nhỏ và một số phân nhóm có rất ít bệnh nhân.

Kết luận: Trong nghiên cứu này, tuổi và giới tính có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với điểm HHS trong phân tích đơn biến. Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa HHS với bệnh lý nội khoa, cơ chế chấn thương, phân độ AO và các đặc điểm X-quang được khảo sát.

Tài liệu tham khảo
[1]
Nguyễn DK, Đào XT, Ma NT. Đánh giá kết quả điều trị gãy xương vùng mấu chuyển xương đùi bằng đinh PFNA tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;546(1):179-182. doi:10.51298/vmj.v546i1.12522 Google Scholar
[2]
Võ Thành Toàn, Phan Ngọc Tùng, Nguyễn Bảo Lục. Kết quả điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi bằng đinh PFNA không dùng bàn chỉnh hình tại Bệnh viện Thống Nhất. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;530(1):19-22. doi:10.51298/vmj.v530i1.6560 Google Scholar
[3]
Murugan PB, Mohan S, Pradeep E, et al. Comparison of functional and radiological outcome of unstable intertrochanteric femur fractures treated using PFN and PFNA in patients with osteoporosis. Journal of Orthopaedic Case Reports. 2024;14(10). doi:10.13107/jocr.2024.v14.i10.4870 Google Scholar
[4]
Phạm Nguyễn Trọng Nguyên, Đào Xuân Thành, Đỗ Hùng Giang. Kết quả điều trị gãy vùng mấu chuyển xương đùi bằng đinh nội tủy đóng kín tại Bệnh viện Bạch Mai. Tạp chí Y học Việt Nam. 2024;543(2):309-313. Google Scholar
[5]
Phruetthiphat O-a, Pinijprapa P, Satravaha Y, Kitcharanant N, Pongchaiyakul C. An innovative scoring system for predicting an excellent Harris hip score after proximal femoral nail anti-rotation in elderly patients with intertrochanteric fracture. Scientific Reports. 2022/11/19 2022;12(1):19939. doi:10.1038/s41598-022-24177-7 Google Scholar
[6]
Lê Xuân Sơn. Đánh giá kết quả điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người trên 65 tuổi bằng đinh PFNA tại Bệnh viện Sài Gòn ITO. Tạp chí Y học Cộng đồng. 2024;65(CĐ 1 - Liên chi hội Phẫu thuật bàn tay):113-120. doi:10.52163/yhc.v65iCD1.974 Google Scholar
[7]
Tang Y, Wang D, Wang L, et al. The PFNA in treatment of intertrochanteric fractures with or without lateral wall fracture in elderly patients: a retrospective cohort study. European Journal of Medical Research. 2023/09/27 2023;28(1):380. doi:10.1186/s40001-023-01332-y Google Scholar