Mục tiêu
Mô tả kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng trẻ nhỏ của bà mẹ tại hai xã vùng biên giới tỉnh Thanh Hóa năm 2025.
Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 200 bà mẹ trực tiếp chăm sóc trẻ dưới 24 tháng tuổi tại xã Na Mèo, huyện Quan Sơn (nay là xã Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa) và xã Pù Nhi, huyện Mường Lát (nay là xã Pù Nhi, tỉnh Thanh Hóa) trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 10 năm 2025. Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc sẵn gồm các nhóm nội dung về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu, kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng trẻ nhỏ. Bộ câu hỏi được xây dựng trên cơ sở các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, được các chuyên gia trong lĩnh vực dinh dưỡng và y tế công cộng góp ý, rà soát để bảo đảm tính phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Trước khi triển khai chính thức, bộ câu hỏi được thử nghiệm trên một nhóm bà mẹ có đặc điểm tương đồng với đối tượng nghiên cứu để đánh giá mức độ dễ hiểu, tính phù hợp của ngôn ngữ và hoàn thiện nội dung. Do địa bàn nghiên cứu có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, các điều tra viên là cán bộ y tế địa phương hoặc cộng tác viên thông thạo tiếng phổ thông và ngôn ngữ dân tộc tại địa bàn. Số liệu được xử lý bằng phần mềm STATA 12.0 với các phép thống kê mô tả và kiểm định χ².
Kết quả
Dân tộc Mông chiếm 42,5% và dân tộc Thái chiếm 44,0% đối tượng nghiên cứu. Chỉ 53,5% bà mẹ biết sữa mẹ là thức ăn đầu tiên tốt nhất cho trẻ; 29,0% biết đúng về nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu; 27,5% biết nên cho trẻ bú đến 24 tháng tuổi. Tỷ lệ bà mẹ biết cần cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh là 28,0%. Chỉ 13,0% người chăm sóc biết trẻ cần ăn đa dạng các nhóm thực phẩm khi ăn bổ sung. Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú hoàn toàn 6 tháng đầu đạt 29,0%; cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh đạt 28,0%. Có 54,5% bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên và 59,5% sử dụng sắt hoặc đa vi chất trong thai kỳ.
Kết luận
Kiến thức và thực hành chăm sóc dinh dưỡng trẻ nhỏ của bà mẹ tại vùng biên giới Thanh Hóa còn hạn chế, đặc biệt về nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý. Cần tăng cường truyền thông giáo dục dinh dưỡng phù hợp với đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ dân tộc.