Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật gãy xương chi do tai nạn tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh giai đoạn 2025-2026. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc trên 185 bệnh nhân gãy xương chi được phẫu thuật cố định xương tại Bệnh viện Lê Văn Thịnh. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang điểm SF-36 tại thời điểm sau phẫu thuật và sau phẫu thuật 3 tháng. Kết quả: Tai nạn giao thông là nguyên nhân phổ biến nhất gây gãy xương chi, chiếm 53,5%. Phương pháp cố định bằng nẹp vít được áp dụng nhiều nhất với tỷ lệ 59,7%. Tại thời điểm T0, điểm SF-36 giữa các nhóm theo giới tính, vị trí gãy xương, tuổi, bệnh lý đi kèm và phương pháp phẫu thuật chưa ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >0,05). Sau 3 tháng theo dõi, điểm chất lượng cuộc sống ở tất cả các nhóm đều cải thiện rõ rệt so với thời điểm sau phẫu thuật và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,001). Kết luận: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật gãy xương chi được cải thiện rõ rệt sau 3 tháng theo dõi. Điều trị phẫu thuật kết hợp phục hồi chức năng có vai trò tích cực trong cải thiện khả năng vận động, giảm đau và nâng cao sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU PHẪU THUẬT GÃY XƯƠNG CHI DO TAI NẠN TẠI BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH
12
Lượt xem
0
Lượt tải xuống
Từ khóa
gãy xương chi trên, gãy xương chi dưới, chất lượng cuộc sống.
Tóm tắt
Tài liệu tham khảo
[1]
Hồ Duy Bính, Nguyễn Thị Nga, Lê Nghi Thành Nhân. (2022). “Khảo sát thực trạng chăm sóc sau mổ gãy xương chi dưới ở người cao tuổi tại Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình - Lồng ngực, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế”, Tạp chí Y Dược học, 12(6), tr.39–45. https://doi.org/10.34071/jmp.2022.6.5.
Google Scholar
[2]
Vũ Minh Hải, Mỵ Thị Hải, Nguyễn Minh Đức, Trần Hoàng Tùng. (2026). “Kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp vít điều trị gãy kín xương đòn tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình”, Tạp chí Y học Việt Nam, 557(3), tr.309–313. https://doi.org/10.51298/vmj.v557i3.16832.
Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Nhàn, Nguyễn Thu Hương. (2026). “Kết quả chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật gãy xương chi trên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn năm 2024”, Tạp chí Y học Cộng đồng, 66(CĐ15-HNKH Trường Đại học Võ Trường Toản), tr.195–200. https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD15.3285.
Google Scholar
[4]
Lê Thị Mai Phương, Phan Thị Dung. (2022). “Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật gãy hở xương chi trên và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp năm 2021”, Tạp chí Y học Thảm họa và Bỏng, 2, tr.51–61.
Google Scholar
[6]
Court-Brown CM, Caesar B. (2006). “Epidemiology of adult fractures: A review”, Injury, 37(8), pp.691–697. https://doi.org/10.1016/j.injury.2006.04.130.
Google Scholar
[7]
Hennessy CH, Moriarty DG, et al. (1994). “Measuring health-related quality of life for public health surveillance”, Public Health Reports, 109(5), pp.665–672.
Google Scholar
[8]
Leggett H, et al. (2021). “Exploring what is important to patients with regards to quality of life after experiencing a lower limb reconstructive procedure: a qualitative evidence synthesis”, Health and Quality of Life Outcomes, 19(1), pp.158–158. https://doi.org/10.1186/s12955-021-01795-9.
Google Scholar
[9]
Pan RH, Chang NT. (2014). “Epidemiology of orthopedic fractures and other injuries among inpatients admitted due to traffic accidents: A 10-year nationwide survey in Taiwan”, Scientific World Journal, 2014, pp.1–7. https://doi.org/10.1155/2014/637872.
Google Scholar
[10]
Ware JE, Snow KK, et al. (1993). “SF-36 Health Survey Manual and Interpretation Guide”, The Health Institute.
Google Scholar
[11]
World Health Organization. (2021). “Injuries and violence: The facts 2021”, World Health Organization.
Google Scholar