Bài báo khoa học Tập 67 Số Số CĐ12- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (2026) 25/08/2026

ĐÁNH GIÁ SỨC CĂNG DỌC THẤT TRÁI BẰNG SIÊU ÂM ĐÁNH DẤU MÔ CƠ TIM Ở BỆNH NHÂN NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP ĐẾN MUỘN SAU 48 GIỜ

Nguyễn Đức Trung Hiếu1,2, Nguyễn Lân Hiếu1,2,3,4, Nguyễn Đỗ Quân3,4, Trần Ngọc Lan5,6, Trần Ngọc Cầm5,6, Nguyễn Thị Thúy Hoa5,6
1 Department of Cardiology, Hanoi Medical University
2 Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội
3 Cardiovascular Center, Hanoi Medical University Hospital
4 Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
5 Vietnam National Heart Institute, Bach Mai Hospital
6 Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD12.6292
273 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá chức năng thất trái, bao gồm sức căng dọc toàn bộ đo bằng siêu âm đánh dấu mô cơ tim 2D, trước và sau can thiệp động mạch vành qua da ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên đến muộn sau 48 giờ.

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu theo dõi dọc, so sánh trước-sau, thực hiện trên 40 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên muộn tại Viện Tim mạch Việt Nam. Tất cả bệnh nhân được can thiệp động mạch vành qua da. Phân suất tống máu thất trái và sức căng dọc toàn bộ trung bình (GLS Avg) được đo trước can thiệp và sau 30 ngày. Hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng độc lập cho khả năng phục hồi sức căng dọc.

Kết quả: So với thời điểm ban đầu, giá trị phân suất tống máu thất trái trung bình cải thiện từ 49,44 ± 10,26% lên 53,28 ± 11,35%, và GLS Avg cải thiện từ -11,86 ± 4,61% lên -13,37 ± 3,91%. Trong phân tích đa biến, chỉ có GLS Avg ban đầu (B = -2,8; p = 0,009) và tổn thương thủ phạm ở nhánh động mạch liên thất trước (B = -2,37; p = 0,024) là yếu tố tiên lượng độc lập cho khả năng phục hồi sức căng dọc.

Kết luận: Can thiệp động mạch vành qua da ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đến muộn giúp cải thiện rõ rệt chức năng tâm thu và sức căng dọc thất trái sau 30 ngày. Sức căng dọc toàn bộ thất trái ban đầu và tổn thương nhánh động mạch liên thất trước là hai yếu tố dự báo độc lập cho biên độ phục hồi sức căng dọc, vượt trội hơn các chỉ số truyền thống như phân suất tống máu thất trái hay NT-proBNP ban đầu.

Tài liệu tham khảo
[1]
Byrne R.A, Rossello X, Coughlan J.J et al. 2023 ESC Guidelines for the management of acute coronary syndromes. Eur Heart J, 2023, 44 (38): 3720-3826. doi: 10.1093/eurheartj/ehad191 Google Scholar
[2]
Tsao C.W, Aday A.W, Almarzooq Z.I et al. Heart disease and stroke statistics - 2023 update: a report from the American Heart Association. Circulation, 2023, 147 (8): e93-e621. doi: 10.1161/CIR.0000000000001123 Google Scholar
[3]
Thomas J.D, Edvardsen T, Abraham T et al. Clinical applications of strain echocardiography: a clinical consensus statement from the American Society of Echocardiography developed in collaboration with the European Association of Cardiovascular Imaging of the European Society of Cardiology. J Am Soc Echocardiogr, 2025, 38 (11): 985-1020. doi: 10.1016/j.echo.2025.07.007 Google Scholar
[4]
Hochman J.S, Lamas G.A et al. Coronary intervention for persistent occlusion after myocardial infarction. New England Journal of Medicine, 2006, 355 (23): 2395-407. doi: 10.1056/NEJMoa066139 Google Scholar
[5]
Antoni M.L, Mollema S.A, Atary J.Z et al. Time course of global left ventricular strain after acute myocardial infarction. Eur Heart J, 2010, 31 (16): 2006-2013. doi: 10.1093/eurheartj/ehq198 Google Scholar
[6]
Baron T, Christersson C et al. Changes in global longitudinal strain and left ventricular ejection fraction during the first year after myocardial infarction: results from a large consecutive cohort. Eur Heart J - Cardiovasc Imaging, 2018, 19 (10): 1165-1173. doi: 10.1093/ehjci/jex260 Google Scholar
[7]
Ersbøll M, Valeur N, Mogensen U.M et al. Relationship between left ventricular longitudinal deformation and clinical heart failure during admission for acute myocardial infarction: a two-dimensional speckle-tracking study. J Am Soc Echocardiogr, 2012, 25 (12): 1280-1289. doi: 10.1016/j.echo.2012.09.006 Google Scholar
[8]
Nguyễn Quý Vũ, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Đức Hùng. Biến đổi phân suất tống máu và sức căng dọc toàn bộ thất trái trên siêu âm đánh dấu mô cơ tim ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp trước và sau can thiệp động mạch vành qua da. Tạp chí Y học Việt Nam, 2024, 538 (3): 198-201. doi:10.51298/vmj.v538i3.9611 Google Scholar
[9]
Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thu Hoài, Phạm Nguyên Sơn. Giá trị dự báo biến cố tim mạch chính và tử vong của sức căng cơ tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên sau can thiệp động mạch vành qua da. Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, 2022, 14 (5): 39-48. doi:10.52389/ydls.v17i5.1354 Google Scholar