Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ lâm sàng của người bệnh ung thư vú điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 1.078 phụ nữ có tổn thương tuyến vú đến khám và điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025.
Kết quả: Trong 1.078 phụ nữ có tổn thương vú, có 373 trường hợp được xác định ung thư vú, chiếm tỷ lệ 34,6%. Tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư vú là 54,19 ± 12,06 tuổi; tỷ lệ phát hiện ác tính trong mẫu tăng dần theo tuổi và cao nhất ở nhóm ≥ 70 tuổi (90,56%). Phụ nữ sinh con lần đầu ≥ 30 tuổi có tỷ lệ ung thư vú cao nhất (57,14%). Nhóm cho con bú dưới 18 tháng có tỷ lệ mắc cao hơn nhóm cho bú ≥ 18 tháng (50,92% so với 28,28%). Tỷ lệ mắc cao hơn ở nhóm có kinh nguyệt sớm trước 15 tuổi (41,83%), đã mãn kinh (62,88%), mang thai thiếu tháng (89,66%) và có tiền sử gia đình mắc ung thư vú (69,57%). Mối liên quan giữa cho con bú dưới 18 tháng có tỷ lệ mắc ung thư vú cao hơn gấp 2,63 lần so với nhóm cho con bú trên 18 tháng OR95%CI:2,63
(1,98 – 3,49), có kinh sớm có khả năng mắc ung thư vú cao hơn nhóm có kinh bình thường 1,5(1,122 – 2,005). Nguy cơ mắc ung thư vú ở nhóm có sinh con thiếu tháng cao gấp 14,497 lần nhóm sinh con đủ tháng 14,497(5,629-37,335), nhóm có tiền sử gia đình có khả năng mắc ung thư vú cao gấp khoảng 4,469 lần OR, 95%CI: 4,469(1,822–10,962).
Kết luận: Ung thư vú chủ yếu gặp ở phụ nữ lớn tuổi và liên quan rõ rệt đến các yếu tố nội tiết, sinh sản và tiền sử gia đình. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng trong tầm soát, phát hiện sớm và dự phòng ung thư vú tại cộng đồng.