Bài báo khoa học Tập 67 Số Số CĐ12- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (2026) 25/08/2026

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ LÂM SÀNG NGƯỜI BỆNH UNG THƯ VÚ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN

Vũ Đình Giáp1,2, Cao Bá Lợi3,4, Dương Đình Chỉnh3,4, Đoàn Thị Hồng Nhật5,6
1 Nghe An Oncology Hospital
2 Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
3 National Institute of Malariology, Parasitology and Entomology
4 Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương
5 Vinh Medical University
6 Đại học y khoa Vinh
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD12.6277
264 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ lâm sàng của người bệnh ung thư vú điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên 1.078 phụ nữ có tổn thương tuyến vú đến khám và điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025.

Kết quả: Trong 1.078 phụ nữ có tổn thương vú, có 373 trường hợp được xác định ung thư vú, chiếm tỷ lệ 34,6%. Tuổi trung bình của bệnh nhân ung thư vú là 54,19 ± 12,06 tuổi; tỷ lệ phát hiện ác tính trong mẫu tăng dần theo tuổi và cao nhất ở nhóm ≥ 70 tuổi (90,56%). Phụ nữ sinh con lần đầu ≥ 30 tuổi có tỷ lệ ung thư vú cao nhất (57,14%). Nhóm cho con bú dưới 18 tháng có tỷ lệ mắc cao hơn nhóm cho bú ≥ 18 tháng (50,92% so với 28,28%). Tỷ lệ mắc cao hơn ở nhóm có kinh nguyệt sớm trước 15 tuổi (41,83%), đã mãn kinh (62,88%), mang thai thiếu tháng (89,66%) và có tiền sử gia đình mắc ung thư vú (69,57%). Mối liên quan giữa cho con bú dưới 18 tháng có tỷ lệ mắc ung thư vú cao hơn gấp 2,63 lần so với nhóm cho con bú trên 18 tháng OR95%CI:2,63

(1,98 – 3,49), có kinh sớm có khả năng mắc ung thư vú cao hơn nhóm có kinh bình thường 1,5(1,122 – 2,005). Nguy cơ mắc ung thư vú ở nhóm có sinh con thiếu tháng cao gấp 14,497 lần nhóm sinh con đủ tháng 14,497(5,629-37,335), nhóm có tiền sử gia đình có khả năng mắc ung thư vú cao gấp khoảng 4,469 lần OR, 95%CI: 4,469(1,822–10,962).

Kết luận: Ung thư vú chủ yếu gặp ở phụ nữ lớn tuổi và liên quan rõ rệt đến các yếu tố nội tiết, sinh sản và tiền sử gia đình. Việc nhận diện các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng trong tầm soát, phát hiện sớm và dự phòng ung thư vú tại cộng đồng.

 

Tài liệu tham khảo
[1]
F. Bray et al., “Global cancer statistics 2022: GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries,” CA Cancer J Clin, vol. 74, no. 3, pp. 229–263, 2024, doi: 10.3322/caac.21834. Google Scholar
[2]
A. Nafees et al., “Frequency of breast cancer in palpable breast lump,” Pakistan Journal of Medical & Health Sciences, vol. 17, no. 02, pp. 173–173, Mar. 2023, doi: 10.53350/pjmhs2023172173. Google Scholar
[3]
Trần Minh Nguyệt, Võ Thanh Nhân, and Trần Thị Ngọc Phượng, “Nghiên cứu tỷ lệ ác tính và các yếu tố nguy cơ u vú có BIRADS 4 -5 trên nhũ ảnh được phẫu thuật tại Bệnh viện Từ Dũ, Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch, Tập.5(1), Trang 1-4.,” 2026. Google Scholar
[4]
X. Mao et al., “Association of reproductive risk factors and breast cancer molecular subtypes: a systematic review and meta-analysis,” BMC Cancer, vol. 23, p. 644, Jul. 2023, doi: 10.1186/s12885-023-11049-0. Google Scholar
[5]
J. A. McDonald et al., “Pregnancy-Related Factors and Breast Cancer Risk for Women Across a Range of Familial Risk,” JAMA Netw Open, vol. 7, no. 8, pp. e2427441–e2427441, Aug. 2024, doi: 10.1001/jamanetworkopen.2024.27441. Google Scholar
[6]
Á. Fernández-Aparicio, J. Schmidt-RioValle, P. A. García, and E. González-Jiménez, “Short Breastfeeding Duration is Associated With Premature Onset of Female Breast Cancer,” Clin Nurs Res, vol. 31, no. 5, pp. 901–908, Jun. 2022, doi: 10.1177/10547738211069725. Google Scholar
[7]
L. Liu, X. Hao, Z. Song, X. Zhi, S. Zhang, and J. Zhang, “Correlation between family history and characteristics of breast cancer,” Sci Rep, vol. 11, no. 1, p. 6360, Mar. 2021, doi: 10.1038/s41598-021-85899-8. Google Scholar
[8]
M. Razavi et al., “Preterm Birth and Breast Cancer Risk: A Systematic Review and Meta-Analysis,” Asian Pac J Cancer Prev, vol. 24, no. 1, pp. 25–35, Jan. 2023, doi: 10.31557/APJCP.2023.24.1.25. Google Scholar
[9]
J. Russo, G. A. Balogh, and I. H. Russo, “Full-term pregnancy induces a specific genomic signature in the human breast,” Cancer Epidemiol Biomarkers Prev, vol. 17, no. 1, pp. 51–66, Jan. 2008, doi: 10.1158/1055-9965.EPI-07-0678. Google Scholar
[10]
H. R. Brewer, M. E. Jones, M. J. Schoemaker, A. Ashworth, and A. J. Swerdlow, “Family history and risk of breast cancer: an analysis accounting for family structure,” Breast Cancer Res Treat, vol. 165, no. 1, pp. 193–200, Aug. 2017, doi: 10.1007/s10549-017-4325-2. Google Scholar
[11]
R. Jose, P. Augustine, L. Paul, J. C. Haran, and S. Subramanian, “Development and validation of the Snehita BRISK model: A breast cancer risk assessment tool for risk stratification in women of the Indian subcontinent,” Clinical Epidemiology and Global Health, vol. 31, p. 101884, Jan. 2025, doi: 10.1016/j.cegh.2024.101884. Google Scholar