Bài báo khoa học Tập 67 Số Số CĐ12- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An (2026) 25/08/2026

TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG THEO PG-SGA VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ DẠ DÀY ĐẠI TRỰC TRÀNG TẠI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY NĂM 2025

Phạm Thanh Vũ1,2, Trần Thị Hảo3,4, Đỗ Thị Vân5,6, Phan Minh Hải5,6, Nguyễn Trọng Hưng7,8, Trần Thị Hảo3,4, Đỗ Nam Khánh3,4
1 Thanh Vu Medic Bac Lieu Hospital
2 Bệnh viện Thanh Vũ Medic Bạc Liêu
3 Hanoi Medical University
4 Trường Đại học Y Hà Nội
5 Bai Chay Hospital, Quang Ninh
6 Bệnh viện Bãi Cháy, Quảng Ninh
7 National Institute of Nutrition
8 Viện Dinh dưỡng quốc gia
DOI: 10.52163/yhc.v67iCD12.6274
264 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở người bệnh ung thư dạ dày, đại trực tràng điều trị hóa chất tại Bệnh viện Bãi Cháy năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 109 người bệnh. Kết quả: Nam chiếm 69,7%; tuổi trung bình 60,9±11,7, nhóm >60 tuổi chiếm 60,7%. Ung thư trực tràng chiếm 45,0%, đại tràng 36,7% và dạ dày 18,3%; đa số ở giai đoạn III–IV (89%). Số đợt hóa chất trung bình 4,1±2,1. Theo BMI, 67,0% bình thường, SDD chiếm 29,4%. Theo PG-SGA, mức A chiếm 62,4%, B 26,6% và C 11,0%. Tỷ lệ sụt cân cao: 62,4% trong 1 tháng (2,7±2,1 kg) và 76,1% trong 6 tháng (4,0±3,0 kg). Trong 1 tháng, 57,8% giảm khẩu phần ăn, chủ yếu ăn ít hơn bình thường. Nhóm điều trị <5 đợt có nguy cơ SDD nặng cao hơn 5,1 lần (95%CI: 1,2–20,8; p=0,021). Nồng độ albumin thấp có liên quan với phân loại PG-SGA (p<0,001), trong khi giai đoạn bệnh và chẩn đoán không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Suy dinh dưỡng và sụt cân phổ biến ở bệnh nhân ung thư đường tiêu hóa điều trị hóa chất. Đánh giá bằng PG-SGA giúp phát hiện sớm nguy cơ, cần tăng cường sàng lọc và can thiệp dinh dưỡng trong thực hành lâm sàng.

 

Tài liệu tham khảo
[1]
Hébuterne X, Lemarié E, Michallet M, de Montreuil CB, Schneider SM, Goldwasser F. Prevalence of malnutrition and current use of nutrition support in patients with cancer. JPEN J Parenter Enteral Nutr. Feb 2014;38(2):196-204. DOI:10.1177/0148607113502674 Google Scholar
[2]
Doganay M, Halil MG, Uyar M, et al. Prevalence of malnutrition risk in hospitalized patients: a large nationwide study. J Health Popul Nutr. Apr 25 2025;44(1):137. DOI:10.1186/s41043-025-00891-6 Google Scholar
[3]
Nguyễn Thị Thuý, Lê Thị Hương, Nguyễn Thị Thanh. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư dạ dày trong quá trình điều trị hoá chất tại Bệnh viện K năm 2020-2021. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 10/29 2021;146(10):140-149. doi:10.52852/tcncyh.v146i10.460 Google Scholar
[4]
Bùi Thị Hoa, Nguyễn Đỗ Huy, Đặng Đức Ngọc, Nguyễn Thị Hồng Thắm. Tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh ung thư đường tiêu hoá điều trị hoá chất tại Bệnh viện E năm 2024. Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm. 01/08 2025;21(1):91-97. DOI:10.56283/1859-0381/868 Google Scholar
[5]
Arends J. Malnutrition in cancer patients: Causes, consequences and treatment options. Eur J Surg Oncol. May 2024;50(5):107074. DOI:10.1016/j.ejso.2023.107074 Google Scholar
[6]
Zhang X, Tang T, Pang L, et al. Malnutrition and overall survival in older adults with cancer: A systematic review and meta-analysis. J Geriatr Oncol. Nov 2019;10(6):874-883. DOI:10.1016/j.jgo.2019.03.002 Google Scholar
[7]
GLOBOCAN. GLOBOCAN 2022: Latest global cancer data shows rising incidence and stark inequities. 2022. https://www.uicc.org/news-and-updates/news/globocan-2022-latest-global-cancer-data-shows-rising-incidence-and-stark Google Scholar
[8]
Jayakrishnan T, Ng K. Early-Onset Gastrointestinal Cancers: A Review. JAMA. Oct 21 2025;334(15):1373-1385. DOI:10.1001/jama.2025.10218 Google Scholar
[9]
Nguyễn Thị Tú Ngọc, Nguyễn Hải Yến, Hà Văn Sơn, Huệ ĐT. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh ung thư đường tiêu hóa điều trị hóa chất tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Nghiên cứu Y học. 03/26 2025;188(3):145-152. DOI:10.52852/tcncyh.v188i3.3159 Google Scholar
[10]
La Văn Phú, Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Văn Non. Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư đường tiêu hoá trước phẫu thuật theo BMI và SGA tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ. Tạp chí Y học Việt Nam. 05/05 2024;538(1).DOI:10.51298/vmj.v538i1.9401 Google Scholar
[11]
Aprile G, Basile D, Giaretta R, et al. The Clinical Value of Nutritional Care before and during Active Cancer Treatment. Nutrients. Apr 5 2021;13(4). DOI:10.3390/nu13041196 Google Scholar
[12]
Tan S, Meng Q, Jiang Y, et al. Impact of oral nutritional supplements in post-discharge patients at nutritional risk following colorectal cancer surgery: A randomised clinical trial. Clin Nutr. Jan 2021;40(1):47-53. DOI:10.1016/j.clnu.2020.05.038 Google Scholar
[13]
Huo Z, Chong F, Yin L, et al. Comparison of the performance of the GLIM criteria, PG-SGA and mPG-SGA in diagnosing malnutrition and predicting survival among lung cancer patients: A multicenter study. Clin Nutr. Jun 2023;42(6):1048-1058. doi:10.1016/j.clnu.2023.04.021 Google Scholar
[14]
Zhou J, Yang S, Liu T, Sun Y, Li S. Diagnostic performance of GLIM and PG-SGA for malnutrition assessment in adult cancer patients: a systematic review and meta-analysis. BMC Cancer. Apr 23 2025;25(1):765. DOI:10.1186/s12885-025-13809-6 Google Scholar
[16]
Bauer J, Capra S, Ferguson M. Use of the scored Patient-Generated Subjective Global Assessment (PG-SGA) as a nutrition assessment tool in patients with cancer. Eur J Clin Nutr. Aug 2002;56(8):779-85. DOI:10.1038/sj.ejcn.1601412 Google Scholar