Bài báo khoa học Tập 67 Số 8 28/08/2026

ĐẶC ĐIỂM TRIỆU CHỨNG PHÂN LY Ở NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN HỖN HỢP HÀNH VI VÀ CẢM XÚC ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN

Nguyễn Thị Phương Mai1,2, Dương Minh Tâm1,2,3,4, Hà Anh Dũng3,4
1 Hanoi Medical University
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bach Mai Hospital
4 Bệnh viện Bạch Mai
DOI: 10.52163/yhc.v67i8.6265
20 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng  triệu chứng phân ly ở người bệnh rối loạn hỗn hợp hành vi và cảm xúc.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 88 người bệnh được chẩn đoán rối loạn hỗn hợp hành vi và cảm xúc (F92) theo ICD-10, điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2025 đến tháng 6/2026. Dữ liệu được thu thập bằng thăm khám trực tiếp kết hợp với hồ sơ bệnh án. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0.

Kết quả: Nhóm nghiên cứu có độ tuổi trung bình 15,2 ± 2,04 tuổi, nữ chiếm 58%, chủ yếu từ 14-16 tuổi (52,3%) và sống tại khu vực thành thị (71,6%). Về lâm sàng, không ổn định cảm xúc chiếm 68,2%, vi phạm quy định chiếm 76,1%; 51,1% người bệnh có triệu chứng cảm xúc và hành vi xuất hiện đồng thời ngay từ khởi phát. Triệu chứng phân ly cơ thể, vận động và cảm giác chiếm ưu thế hơn cả, trong đó đau và run là triệu chứng phân ly cơ thể và vận động phổ biến nhất (tương ứng 58,3% và 56,4%). 100% người bệnh được điều trị hóa dược, 65,9% kết hợp liệu pháp hóa dược và liệu pháp tâm lý, 34,1% kết hợp cả liệu pháp hóa dược, tâm lý và điều biến não.

Kết luận: Rối loạn hỗn hợp hành vi và cảm xúc chủ yếu gặp ở nữ thanh thiếu niên đô thị trong độ tuổi học đường. Triệu chứng phân ly cơ thể, vận động và cảm giác chiếm ưu thế. Điều trị kết hợp liệu pháp hóa dược, tâm lý và điều biến não là hướng tiếp cận phù hợp. Cần phát hiện sớm và can thiệp toàn diện ở nhóm đối tượng này.

Tài liệu tham khảo
[1]
Seligman R, Kirmayer L.J. Dissociative experience and cultural neuroscience: narrative, metaphor and mechanism. Cult Med Psychiatry, 2008, 32 (1): 31-64. doi: 10.1007/s11013-007-9077-8. Google Scholar
[2]
Sethi S, Gandhi R et al. Clinical features and outcome of conversion disorders in children and adolescents. Journal of Indian Association, 2010: 49-54. doi: 10.1177/0973134220100302. Google Scholar
[3]
Lyssenko L, Schmahl C et al. Dissociation in psychiatric disorders: a meta-analysis of studies using the dissociative experiences scale. American Journal of Psychiatry, 2018, 175 (1): 37-46. doi: 10.1176/appi.ajp.2017.17010025. Google Scholar
[4]
Gast U, Rodewald F et al. Prevalence of dissociative disorders among psychiatric inpatients in a German university clinic. J Nerv Ment Dis, 2001, 189 (4): 249-257. doi: 10.1097/00005053-200104000-00007. Google Scholar
[5]
Woolard A, Boutrus M. Treatment for childhood and adolescent dissociation: A systematic review. Psychol Trauma, 2024, 16 (Suppl 3): S483-S491. doi: 10.1037/tra0001615. Google Scholar
[6]
Trần Thị Thu Hà. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn phân ly ở lứa tuổi vị thành niên điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015. Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2015. Google Scholar
[7]
Fang Z, Li Y et al. Characteristics and outcomes of children with dissociative (conversion) disorders in western China: a retrospective study. BMC Psychiatry, 2021, 21 (1): 31. doi: 10.1186/s12888-021-03045-0. Google Scholar