Mục tiêu: Đánh giá ổn định dài hạn về mô cứng, mô mềm và chất lượng cuộc sống liên quan đến chỉnh hình hàm mặt của bệnh nhân sau phẫu thuật BSSO đưa hàm dưới ra trước trong điều trị sai hình xương hạng II.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 32 bệnh nhân (18 nữ, 14 nam), thực hiện BSSO tại Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh giai đoạn 2018–2022. Đánh giá ổn định dài hạn về mô cứng, mô mềm và OQLQ của bệnh nhân sau phẫu thuật.
Kết quả: Biên độ đẩy hàm trung bình 5,46 ± 1,81 mm. Ngay sau phẫu thuật (T1-T2): SNB tăng 2,81°, ANB giảm 2,96°, cắn chìa giảm 5,69 mm, cắn phủ giảm 2,21 mm; các góc mô mềm thay đổi có ý nghĩa (N-A-Pog: −4,77°; N’-Sn-Pog’: +6,01°; N’-Pn-Pog’: +3,95°). Giai đoạn T3-T4: không ghi nhận tái phát có ý nghĩa ở xương và răng; biến đổi mô mềm ở LL-E-line (−0,92 mm) và N’-Sn-Pog’ (+2,11°) có ý nghĩa thống kê. Rối loạn cảm giác thần kinh sớm: 26/32 bệnh nhân (81,25%); tại T4 còn 6/26 bệnh nhân dị cảm dai dẳng. Điểm OQLQ tại T4 là 10,7 điểm.
Kết luận: BSSO đưa hàm dưới ra trước cho sự thay đổi trung bình trên mô xương không có ý nghĩa thống kê, duy trì cải thiện thẩm mỹ mặt nhìn nghiêng và chất lượng cuộc sống sau điều trị ở mức tương đối tích cực tại thời điểm theo dõi dài hạn sau điều trị phẫu thuật chỉnh hình trong nhóm bệnh nhân sai hình xương hạng II.
Kết luận nên giới hạn trong mẫu 32 bệnh nhân được theo dõi đủ hồ sơ, không nên khái quát rộng. Cần bổ sung các hạn chế: hồi cứu, chọn mẫu hoàn tất theo dõi, không có CBCT/đánh giá 3D và chưa kiểm soát yếu tố nguy cơ tái phát.