Bài báo khoa học T67 Số CDD10 - HN Bệnh viện Nhi Đồng 2 - HN Trường Đại học Nguyễn Tất Thành

TẦM SOÁT BỆNH ĐƯỜNG TIỂU BẰNG QUE THỬ NƯỚC TIỂU 10 THÔNG SỐ TRONG NHÂN VIÊN ĐẾN KHÁM SỨC KHỎE TẠI BỆNH VIỆN LÊ VĂN THỊNH, TP.HỒ CHÍ MINH

Lê Xuân Minh Phúc1,2, Nguyễn Thị Băng Sương3,4, Lê Xuân Trường5,6
1 Graduate Student, University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
2 Học viên Cao học, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
3 auto_awesome Đang hiện bản dịch cho Giảng viên Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh Chuyển sang dịch Giảng viên Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Min 39 Lecturer at the University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City
4 Giảng viên Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh
5 Lecturer at Nguyen Tat Thanh University
6 Giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành
DOI: 10.52163/yhc.v67icd10.6212
0 Lượt xem
0 Lượt tải xuống
Tóm tắt

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ % một số bệnh đường tiểu và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm bằng que thử nước tiểu 10 thông số.

Đối tượng và phương pháp: Đối tượng là nhân viên các công ty khác nhau đóng trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh ký hợp đồng khám sức khỏe với bệnh viện, có tuổi từ 18 đến 60. Thời gian thu thập mẫu từ tháng 3/2024 đến tháng 12/2025 tại bệnh viện Lê Văn Thịnh. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang từng đợt khám cho nhân viên ở các công ty khác nhau. Cỡ mẫu: N=1.733 người làm nhiều xét nghiệm tổng quát (trong đó có 1623 ca xét nghiệm nước tiểu). Tiêu chuẩn chọn mẫu: Tất cả nhân viên đến khám sức khỏe tổng quát. Kỹ thuật định lượng các xét nghiệm bằng que thử nước tiểu 10 thông số trên máy Clinitek Novus của hãng Siemens.

Kết quả: Bước đầu ghi nhận, tuổi trung bình của nhân viên khoảng 40,59 ± 9,33; Phái nam chiếm 81,4%; phái nữ chiếm 18,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,003). Tỷ lệ xét nghiệm nitrit dương tính là 39/1623 ca = 2,4%; Bạch cầu dương tính là 170/1623 ca = 10,5%; Nitrit và bạch cầu cùng dương tính là 39/1623 ca = 2,4%. Tỷ lệ glucose niệu dương tính là 71/1623 ca = 4,4%; trong đó có 65/71 ca (91%) glucose niệu dương tính nhưng glucose máu bình thường. Trong bệnh cầu thận, protein niệu dương tính là 144/1623 ca = 8,9%; tiểu máu đơn thuần là 88/1623 ca = 5,4%; protein niệu và tiểu máu cùng dương tính là 75/1623 ca = 4,6%. Trong bệnh gan mật, tỷ lệ bilirubin niệu dương tính là 14/1623 ca = 0,9%, urobilinogen niệu dương tính là 212/1623 ca = 13,1%.

Kết luận: Tầm soát bệnh đường tiểu bằng que thử nước tiểu 10 thông số, bước đầu giúp phát hiện các xét nghiệm liên quan đến nhiễm trùng đường tiểu và đái tháo đường chiếm một tỷ lệ nhất định trong nhân viên các công ty, nhóm bệnh cầu thận và gan mật chiếm tỷ lệ thấp. Nên phân tích và làm thêm các xét nghiêm chuyên sâu để giúp phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời. Có nhiều yếu tố gây nhiễu lên que thử nên khi nhận định kết quả xét nghiệm cần lưu ý đến các yếu tố gây nhiễu trong lâm sàng (dương tính giả, âm tính giả) như các loại thuốc điều tri, kể cả vitamin .

Tài liệu tham khảo
[1]
Lê Xuân Trường, Đỗ Đình Hồ. Sử dụng giấy thử nước tiểu để phát hiện một số bệnh liên quan đến đường tiểu. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 1997;1(Phụ bản số 4):60-63. Google Scholar
[2]
Lê Xuân Trường, Đỗ Đình Hồ. Giá trị của xét nghiệm nitrite và bạch cầu trong nhiễm trùng đường tiết niệu. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 1997;1(Phụ bản số 4):154-157. Google Scholar
[3]
Lê Xuân Trường, Đỗ Kim Hiền. So sánh phương pháp dùng que thử tìm máu trong nước tiểu với phương pháp soi cặn niệu. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 2000;4(Phụ bản số 1): 60-61. Google Scholar
[4]
Đỗ Thùy Dung, Trần Thị Huệ Vân. Căn nguyên vi khuẩn và hiệu quả của que thử nước tiểu trong dự đoán nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Tạp chí Y học Việt Nam. 2026;560(1):110-115. doi:10.51298/vmj.v560i1.17751. Google Scholar
[5]
Gebretensaie Y, Atnafu A, Alemu Y, Girma S, Desta K. Evaluation of the diagnostic performance of the LINEAR Cromatest and Laboquick URS 10-T dipsticks among urinary tract infection suspects in Addis Ababa, Ethiopia: a cross-sectional study. Research and Reports in Urology. 2023;15:437-445. doi:10.2147/RRU.S434128. Google Scholar
[6]
Quế Anh Trâm, Lê Văn Thu. Nghiên cứu một số yếu tố nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện liên quan đến ống thông bàng quang tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;528(2):241-245. doi:10.51298/vmj.v528i2.6123. Google Scholar
[7]
Nguyễn Thị Thịnh và CS. Thực trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu dưới ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Khoa Tiết niệu dưới, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 4 đến tháng 12/2024. Tạp chí Y Dược học Quân sự. 2025;50(SI2):57-65. doi:10.56535/jmpm.v50si2.12616. Google Scholar
[8]
Nguyễn Hữu Toàn, Đàm Văn Cương. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân thận ứ mủ do sỏi niệu quản gây nhiễm khuẩn huyết và đánh giá kết quả dẫn lưu trong tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ. 2021;(37):15-22. Google Scholar
[9]
Mambatta AK, Jayarajan J, Rashme VL, Harini S, Menon S, Kuppusamy J. Reliability of dipstick assay in predicting urinary tract infection. Journal of Family Medicine and Primary Care. 2015;4(2):265-268. doi:10.4103/2249-4863.154672. Google Scholar