Đặt vấn đề: Bệnh tuyến giáp khá phổ biến trong cộng đồng, nguyên nhân thường gặp do bệnh lý tự miễn và thiếu Iod [1,2,5,6,7,8]. Để khảo sát tình trạng bệnh lý tự miễn của tuyến giáp, chúng tôi tiến hành “Khảo sát nồng độ các tự kháng thể kháng giáp TGAb, TPOAb, TRAb trên một số bệnh cường giáp, suy giáp và u ác tính tuyến giáp ”.
Mục tiêu: Xác định nồng độ các tự kháng thể kháng giáp TGAb, TPOAb, TRAb trên các bệnh cường giáp, suy giáp và u ác tính tuyến giáp.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gồm 235 bệnh nhân có tuổi từ 17 trở lên, chia làm 2 nhóm, nhóm 1 (nhóm bệnh) là các bệnh nhân cường giáp, suy giáp và u ác tính tuyến giáp (N=174 ca), nhóm 2 (nhóm đối chứng) là nhóm các dạng bệnh lý khác của tuyến giáp như bệnh viêm giáp, phì đại tuyến giáp (N=61 ca). Tất cả bệnh nhân được khám và điều trị tại bệnh viện Lê Văn Thịnh, TP. Hồ Chí Minh. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang. Phương pháp định lượng các tự kháng thể kháng giáp TGAb, TPOAb, TRAb trên máy miễn dịch Cobas e 402 của hãng Roche.
Kết quả: Trong phân tầng tuổi, nhóm tuổi gặp nhiều là từ 30 - ˂50 (với p=0,015), giới nữ chiếm đại đa số trong nhóm bệnh (80,5%). Trung vị các tự kháng thể TGAb, TPOAb và TRAb của nhóm bệnh và nhóm đối chứng của bệnh lý tuyến giáp tăng rất cao, xét nghiệm TGAb, TPOAb và TRAb có trung vị của nhóm bệnh lần lượt là 18,90 IU/mL, 127,30 IU/mL và 2,14 IU/mL so với 17,80 IU/mL, 11,83 IU/mL và 1,32 IU/mL ở nhóm đối chứng (với p=0,259 ở TGAb, p=0,003 ở TPOAb và p=0,035 ở TRAb). Cũng có sự khác biệt về nồng độ các tự kháng thể giữa 2 nhóm bệnh và nhóm đối chứng, nồng độ các tự kháng thể TGAb, TPOAb và TRAb nhóm bệnh tăng cao hơn nhóm đối chứng. Ngoài ra có sự khác biệt về nồng độ TGAb và TPOAb, TRAb trên các thể bệnh tuyến giáp (cường giáp, suy giáp, u ác tính tuyến giáp) so với nhóm đối chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở xét nghiệm TPOAb (p=0,008). Riêng xét nghiệm TRAb (với p=0,867).
Kết luận: Có sự khác biệt về tuổi trung bình giữa nam và nữ trên 2 nhóm bệnh tuyến giáp (p=0,051); trong phân tầng tuổi, gặp nhiều ở nhóm tuổi 30 - ˂50 (với p=0,015); giới nữ nhóm bệnh và nhóm đối chứng chiếm đại đa số (khoảng 80,5% và 72,1%). So với giá trị bình thường (hằng số sinh học ở người Việt Nam), nhóm đối chứng và nhóm bệnh có nồng độ các tự kháng thể kháng giáp tăng cao bất thường, trong đó nhóm bệnh cao hơn nhóm đối chứng (p=0,003 với TPOAb, p=0,035 với TRAb, riêng p=0,259 với TGAb). Cũng có sự khác biệt về nồng độ TGAb, TPOAb, TRAb trong các thể bệnh của tuyến giáp, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).