Đặt vấn đề: Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Tại Việt Nam, tính đến năm 2019 tỷ lệ dân số ≥ 60 tuổi đạt khoảng 11,9% và tiếp tục tăng nhanh, dự báo sẽ vượt 25% vào năm 2050. Sự gia tăng mạnh mẽ của nhóm dân số này dẫn tới sự gia tăng đáng kể nhu cầu chăm sóc y tế và gánh nặng bệnh tật, đặc biệt là trong quản lý các bệnh mạn tính không lây như các bệnh lý tim mạch. Hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên (NSTE-ACS) được xem một trong những nguyên nhân tim mạch gây tử vong hàng đầu ở người bệnh cao tuổi. Đồng thời, tuổi cao cũng được xem là một yếu tố nguy cơ độc lập làm gia tăng tử suất và các biến cố bất lợi sớm sau NSTE-ACS. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân > 75 tuổi bị nhồi máu cơ tim không có ST chênh lên cao gấp khoảng hai lần so với nhóm bệnh nhân < 75 tuổi và các biến chứng liên quan tới nhồi máu cơ tim như suy tim, suy thận, chảy máu và đột quỵ cũng gia tăng đáng kể theo tuổi.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên ở người cao tuổi tại bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu bao gồm hồi cứu hai giai đoạn tháng 04/2022 đến tháng 02/2023 và từ tháng 01/2025 đến tháng 12/2025, tiến hành trên 279 bệnh nhân cao tuổi ≥ 60 tuổi có hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên tại bệnh viện Nhân dân Gia Định.
Kết quả nghiên cứu: 279 bệnh nhân cao tuổi có hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên, tuổi trung bình: 70,87 ± 7,95, trong đó nhóm tuổi sơ lão (60-69 tuổi) chiếm tỷ lệ cao nhất là 53,05%, trung lão (70-79 tuổi) chiếm 29,39% và cuối cùng đại lão (≥ 80 tuổi) chiếm ít nhất là 17,56%, nữ nhiều hơn nam với 156 (55,91%), số ngày nằm viện điều trị trung bình 6,40 ± 6,28. Tiền sử bệnh lý tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất (83,51%), kế tiếp là rối loạn lipid máu (41,94%) và đái tháo đường (40,86%). Phân suất tống máu thất trái giảm (EF ≤ 40%) chiếm 21,51%, 19% bệnh nhân có điểm GRACE ³ 140 và 19,35% bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao theo thang điểm ARC – HBR. Bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua ống thông (PCI) nhiều hơn với 155 bệnh nhân (55,56%), trong quá trình điều trị các biến cố chiếm tỷ lệ rất thấp như: xuất huyết (1,79%), tổn thương thận cấp do thuốc cản quang (2,15%), biến cố mạch máu đường vào khi thực hiện PCI (3,23%) và đặc biệt kết cục nội viện tử vong chỉ chiếm tỷ lệ 3,58%. Khi phân tích đơn biến, các yếu tố thời điểm chẩn đoán như : nguy cơ chảy máu cao theo thang điểm ARC – HBR, số lượng bạch cầu, tỷ lệ % neutrophil, số lượng tiểu cầu, nồng độ chỉ số hoạt độ gan (SGOT, SGPT), giá trị Troponin I siêu nhạy lần 1, GRACE ³ 140 điểm và các yếu tố trong quá trình điều trị như: tổn thương thận cấp do thuốc cản quang, xuất huyết, nhiễm khuẩn cấp đồng mắc có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa hai nhóm bệnh nhân có và không có tử vong nội viện.
Kết luận: Các biến cố như xuất huyết, tổn thương thận cấp do thuốc cản quang, tổn thương mạch máu đường vào khi thực hiện PCI và đặc biệt tử vong nội viện chiếm tỷ lệ rất thấp. Các yếu tố: chỉ số bạch cầu, tiểu cầu, chỉ số hoạt độ gan, giá trị men tim siêu nhạy, tình trạng xuất huyết, tổn thương thận cấp do thuốc cản quang, thang điểm GRACE và đánh giá nguy cơ xuất huyết theo đồng thuận ARC – HBR có vai trò giúp tiên lượng nguy cơ tử vong nội viện cho bệnh nhân cao tuổi.